Giáo Dục trẻ từ sớm - Chương 2 - Phần 1

20/ 02/ 2017 4:22:21 CH 0 Bình luận

Chương 2: Sự phát triển của trẻ

Chương này chúng ta sẽ cùng khám phá khả năng tiềm ẩn của mỗi đứa trẻ.

1. Mọi thai nhi đều là thiên tài

1.1. Cuộc chiến sinh tồn 2 triệu con chọn 1

Bạn biết về cuộc chiến này rồi đúng không ạ? Mỗi 1 lần người đàn ông phóng tinh, 2-5 triệu tinh trùng được phóng ra, chúng đua nhau để bơi tới trứng và chúng biết sẽ chỉ có 1 con sống sót. Khi có 1 kẻ nhanh nhất, khỏe nhất chạm được đến đích, cánh cửa lập tức đóng lại. Bởi vậy, mỗi chúng ta đều có quyền tự hào mình là nhà vô địch ngay từ trong trứng.

1.2.Thai nhi trải qua quá trình tiến hóa 3,6 triệu năm

Thế giới mất 3 tỷ 860 triệu năm để tiến hóa từ 1 tế bào đơn phát triển thành một thực thể phức tạp nhất đó là bộ não con người, vậy mà thai nhi đã trải qua toàn bộ quá trình trong có 9 tháng 10 ngày. Tốc độ phát triển thần tốc: trung bình một phút sinh ra 250.000 tế bào, 9 tháng tổng cộng sản sinh ra một trăm tỉ tế bào cơ thể người. Bộ não được ưu tiên phát triển đầu tiên, số lượng noron thần kinh cao cấp vùng vỏ não lúc mới sinh còn nhiều hơn của người trưởng thành và sau đó có một số bộ phận do không được sử dụng mà chết đi.

Tôi xin trích nguyên 3 trang trong cuốn “Phương án 0 tuổi – Chiếc nôi ươm hạt giống tài năng” – GS Phùng Đức Toàn (trang 58-60):

“Chúng ta đừng bao giờ xem thường thai nhi, nó không đơn thuần là một “khối thịt nhỏ bé” trong bụng mẹ. Chúng ta nên biết rằng, thai nhi là một tiểu sinh linh có sức sống mạnh mẽ nhất trong vũ trụ. Một hợp tử được tạo thành từ sự kết hợp của các tế bào đơn trong tinh trùng và trứng, từ một sinh mạng nhỏ bé không nhìn thấy được, chỉ chín tháng sau, thai nhi đã phát triển trở thành một cơ thể hoàn thiện và một bộ não cao cấp nhất trong vũ trụ. Chỉ mất khoảng thời gian hơn chín tháng để đi hết con đường tiến hóa 3,86 triệu năm từ một tế bào đơn tới bộ não con người của giới tự nhiên, liệu có kì tích nào vĩ đại hơn chăng?

Chức năng sinh lý và tâm lý của thai nhi gần như phát triển đồng bộ.

Một tháng tuổi, hệ thống thần kinh thai nhi bắt đầu hình thành.

Hai tháng tuổi, thai nhi bắt đầu xuất hiện lớp vỏ não. Thai nhi cũng đã có xúc giác, biết cảm giác đau và có những vận động giống như bơi lội.

Ba tháng tuổi, miệng thai nhi có thể chạm tới tay và cuống rốn, đã biết động tác mút.

Bốn tháng tuổi, ở thai nhi bắt đầu từ từ xuất hiện các phản xạ chạy trốn, phản xạ phòng ngự, phản xạ mút và phản xạ hô hấp mang tính kích thích. Thai nhi có thể nghe được những âm thanh bên ngoài tử cung. Khi ấy, nếu người mẹ uống nhiều nước lạnh hoặc nước sôi, thai nhi sẽ đạp thật mạnh và dữ dội, dùng tia sáng ngắt quãng để chiếu lên bụng mẹ, nhịp đập của tim có thể xuất hiện sự biến đổi rõ ràng.

Năm tháng tuổi, thai nhi bắt đầu có khả năng ghi nhớ, nếu được nghe thấy giọng nói của mẹ nhiều lần sẽ có cảm giác an toàn. Có thể mút tay một cách khá thành thục. Chức năng của thận bắt đầu phát triển, đã có thể tiểu tiện trong nước ối. Sau khi uống nước ối có thể thải ra thông qua ruột non.

Sáu tháng tuổi, thai nhi bắt đầu có khả năng ngửi được mùi của mẹ và ghi vào trong trí nhớ. Sự vận động của thai nhi khiến nước ối lắc lư, kích thích làn da.

Bảy tháng tuổi, não bộ thai nhi đã xuất hiện các nếp nhăn và đường rãnh rõ ràng, có kết cấu phức tạp, các tế bào thần kinh gần giống với người trưởng thành. Thị giác của thai nhi bắt đầu phát triển. Khi nghe thấy những âm thanh bên ngoài, có thể cảm nhận thích hay không thích, nếu không thích thai nhi sẽ phản ứng bằng cách mút tay (một số trẻ sơ sinh sau khi sinh ra có kén ở tay). Đã có khả năng phát âm.

Tám tháng tuổi, thai nhi có thể nghe và phân biệt được sự nhẹ nhàng hay mạnh mẽ, mức độ cao hay thấp trong giọng nói và những loại âm thanh khác nhau (phân biệt được sự khác nhau trong giọng nói của bố và mẹ) đồng thời có những phản ứng thể hiện sự mẫn cảm với chúng. Các gai vị giác trên lưỡi đã bắt đầu phát triển, có thể cảm nhận được vị đắng và ngọt. Thông qua các thí nghiệm đối với trẻ sinh non cho thấy, thai nhi thường thích vị ngọt. Lúc này, thai nhi đã có sự phân biệt về ngủ và thức, có khi mẹ ngủ song thai nhi lại thức, biết phân biệt giữa vui vẻ và không vui vẻ. Ngoài ra, thai nhi còn có thể cảm nhận được những cảm xúc vui mừng kích động, bất an hay bi thương của người mẹ đồng thời có những phản ứng với chúng. Khi tử cung của mẹ co lại hoặc bị đè nén do tác động từ bên ngoài, thai nhi có thể đạp mạnh vào tử cung để phản kháng.

Sau chín tháng, thai nhi có thể được sinh ra một cách khỏe mạnh. Chúng ta biết rằng, thai nhi đã có đầy đủ lục phủ ngũ tạng với chức năng phức tạp và hoàn thiện; có thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác và khứu giác tương đối mẫn cảm, có thể thoát ly khỏi cuộc sống ở nhờ trong bụng mẹ với sức sống tràn trề. Sức sống ấy không phải bất chợt hình thành khi thai nhi được sinh ra mà đã tồn tại ngay trong quá trình mang thai. Tôi nghĩ, sự khác biệt giữa một đứa trẻ sơ sinh và thai nhi ở giai đoạn cuối chỉ là rất nhỏ, hoặc có thể nói rằng, đó chỉ là sự khác nhau qua việc sinh nở của người mẹ. Vì thế, chức năng sinh lý và tâm lý của trẻ sơ sinh phát triển đồng bộ, sự phát triển của thai nhi cũng tương tự như vậy, đây là điều không thể chối cãi.

1.3.Thai nhi có thể học

Đây là những điều được viết trong cuốn ebook “Thiên tài từ 280 ngày”.

- Thính giác của thai nhi: Sau 6 tháng tuổi là thai nhi có thính giác và bắt đầu “Chăm chú lắng nghe”. Thai nhi nghe các âm thanh trong cơ thể của ngưòi mẹ như: Nhịp đập của huyết quản, động mạch ở tử cung, mạch máu ở cuống rốn và âm thanh từ sự co bóp của dạ dày và các âm thanh ở bên ngoài như: tiếng nói chuyện, tiếng tàu xe, v…v… Thai nhi có phản ứng lại các âm thanh này.

- Thị giác của thai nhi: Khi người mẹ mang thai được hai tháng, mắt của thai nhi bắt đầu được hình thành, đến khi thai nhi được 4 tháng, thai nhi đã có khả năng cảm thụ ánh sáng. Nếu chiếu đèn pin vào bụng người mẹ, thai nhi sẽ có phản ứng.

- Xúc giác của thai nhi: Khi người mẹ mang thai được 2 tháng, thai nhi đã có thể cử động phần đầu, tứ chi và phần thân, có thể chuyển dịch trong bào thai. Khi được 4 tháng, nếu như tay của người mẹ vô tình xoa vào phần mặt của thai nhi thì nó sẽ chau mày hoặc nhắm mắt. Nếu người mẹ tạo ra một áp lực nhỏ trên bụng thì lập tức thai nhi sẽ dùng tay hoặc chân của mình để tạo phản ứng. Qua kính quan sát thai nhi phát hiện thấy, khi chạm phải lòng bàn tay của thai nhi, thì ngay lập tức nó sẽ nắm chặt tay vào để phản ứng, còn nếu chạm phải miệng của thai nhi, thì nó sẽ phản ứng bằng cách ngậm môi và mút. Một số nhà nghiên cứu nước ngoài đã sử dụng sơ đồ sóng siêu thanh và phát hiện ra rằng, dương vật của thai nhi nam trong dạ con cũng có thể cử động. Tất cả những cái đó đều cho thấy chức năng xúc giác của thai nhi. Do môi trường trong dạ con rất tối đã hạn chế sự phát triển thị giác của thai nhi nên thính giác và xúc giác của thai nhi rất phát triển. Và cũng chính những chức năng này là cơ sở tốt cho việc giáo dục thai nhi.

- Vị giác và khứu giác của thai nhi: Sau khi người mẹ mang thai được 2 tháng thì miệng và mũi của thai nhi bắt đầu được hình thành, 4 tháng thì khí quan cảm thụ vị giác trên đầu lưỡi của thai nhi được hình thành hoàn toàn, 7 tháng thì lỗ mũi của thai nhi hoàn toàn có thể cảm nhận được thế giới bên ngoài.

- Trí nhớ của Nhai nhi: Sau 4 tháng kể từ khi người mẹ mang thai, trong não bộ của thai nhi đã xuất hiện những biểu hiện cho thấy thai nhi bắt đầu hình thành trí nhớ. Trí nhớ của thai nhi đặc biệt với âm thanh. Cũng vì có trí nhớ, thai nhi có hoạt động nằm mơ.

- Thói quen và tính cách của thai nhi: Thói quen và tính cách của thai nhi phụ thuộc vào thực phẩm người mẹ ăn, trạng thái tâm lý, tình cảm của người mẹ và thói quen sinh hoạt của người mẹ.

Tất cả những đặc điểm trên cho thấy thai nhi có thể học và việc “dạy” cho thai nhi có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của đứa trẻ sau này.

1.4. Đỉnh cao của thai giáo: 1 mẹ sinh 4 người con đều đạt chỉ số IQ trên 160

Đây là trường hợp được mô tả trong cuốn sách Phương pháp thai giáo Sisedike, một tài liệu chưa được xuất bản của Phương án 0 tuổi. Tôi xin trích 1 phần ngắn mô tả về họ. Người mẹ tên Saneko Sisedike, sinh năm 1945 tại Nhật Bản, đã từng theo học khóa đào tạo tiếng Anh ngắn hạn của trường Đại học Kyoto Sangyo ở Nhật, về sau có tham gia giảng dạy tiếng Anh giao tiếp trong một khoảng thời gian không dài. Người cha tên Joseph Sisedike chỉ là một công nhân kỹ thuật máy bình thường với trình độ văn hóa ở cấp phổ thông trung học. Vậy mà, những người cha mẹ hết sức bình thường ấy đã làm nên một kỳ tích trí tuệ khiến nhiều người kinh ngạc: bốn cô con gái của họ - con gái cả Susan, con gái thứ hai Stacey, con gái thứ ba Stephanie và con gái út Jaina đều có chỉ số thông minh trên 160, nằm trong Top 5% những người có chỉ số thông minh cao nhất trên toàn nước Mỹ, trở thành những “nhi đồng thiên tài” làm cả thế giới ngưỡng mộ. Về mặt di truyền học thì tỷ lệ có 4 người cùng đạt chỉ số IQ trên 160 có tỷ lệ nhỏ đến mức phải dùng con số thiên văn để mô tả, nghĩa là khó như lên trời, vì thế, kết quả này có được có thể khẳng định hoàn toàn do giáo dục.

Những nội hàm cơ bản của “Phương pháp thai giáo Sisedike”: Người mẹ đang mang thai, bằng những thay đổi trong giọng nói và động tác cơ thể cùng trạng thái tâm lý của mình đã giúp thai nhi cảm nhận được tất cả mọi điều mà mẹ của mình đã nhìn thấy, nghe thấy và nghĩ tới. Nhờ đó, sau khi chào đời, thai nhi sẽ có được những tố chất nhất định. Đây chính là toàn bộ bí quyết giúp một gia đình bình thường bồi dưỡng nên những “nhi đồng thiên tài”. Chúng tôi sẽ tổng hợp phương pháp thai giáo cuốn sách này cùng với các cuốn sách khác trong chương thai giáo.

1.5.Karl Witte, tiến sĩ trẻ nhất của thế giới cũng được thai giáo

Nếu có dịp đọc cuốn sách “Em phải đến Harvard học kinh tế tập 5” bạn sẽ thấy được điều này. Có thể mô tả 1 vài điểm quan trọng sau: cha mẹ Karl Witte rất yêu nhau, trong thời gian mang thai, họ dồn hết tâm trí vào đứa trẻ, họ sống rất điềm đạm, thường xuyên đi dạo để tâm hồn thư thái, luôn giữ tâm trạng bình tĩnh, duy trì cuộc sống bình yên, êm đẹp, thường xuyên đi dạo, ngắm cảnh đẹp, luôn tin tưởng con mình sẽ là một đứa trẻ xinh đẹp, khỏe mạnh, thông minh. Họ cũng tránh mọi tác động xấu đến thai nhi như rượu, tiếng ồn, thực phẩm kích thích, v...v...

Mọi thai nhi đều là thiên tài. Hãy nhớ điều đó, hãy hiểu rằng thai nhi đã là một thực thể sống, đang tương tác, đang tiếp nhận và đang ghi nhớ, đừng vứt bỏ nó cho dù ngày mai trời có sập. Hãy yêu thương, luôn nghĩ về con, luôn giữ tâm trạng vui vẻ, luôn tin tưởng vào tương lai tươi sáng, điều đó cực kỳ quan trọng. Bạn có thể tham khảo thêm phần tổng hợp các phương pháp thai giáo ở chương 4.

1.6.Phá thai – tội lớn thứ 3 theo giáo lý của đạo Phật

Thật không vui vẻ gì khi viết về điều này, nhưng tôi vẫn phải chia sẻ những gì mình đã được thấy, được nghe và tôi tin. Tại sảnh vào của chùa Phổ Linh (nằm trên đường vào phủ Tây Hồ, Hà Nội) có 1 tấm bia ghi 5 tội lớn nhất của con người, tôi không nhớ nguyên văn nhưng cơ bản là: 1. Tội giết cha; 2. Tội giết mẹ; 3. Tội giết thai; 4. Tội phá tăng; 5. Tội quấy phật. Đứa trẻ sau khi được thụ thai thành công đã là một sinh linh có linh hồn. Nếu vì một lý do nào đó bị can thiệp và phá bỏ, nó sẽ chết mà không có tên, sẽ chết mà không được chôn, sẽ chết vì chính những người cha người mẹ của mình, những người lẽ ra phải yêu mình nhất, thai nhi sẽ không được siêu thoát và đầu thai trở lại thành người. Vì thế, 1 lần phá thai sẽ tạo ra nghiệp chướng phải đánh đổi bằng hàng nghìn kiếp. Tại chùa Phổ Linh hàng năm có tổ chức lễ cầu siêu cho thai nhi, bạn có thể liên hệ chùa nếu đã vô tình phạm phải tội này.

Tôi được nghe 2 câu chuyện từ chị Lê Thúy Hạnh, người được mệnh danh là nữ hoàng tên miền Việt Nam. Câu chuyện đầu tiên như sau: có một cụ già ở Nam Định, thường xuyên đi xin xác thai nhi bị nạo phá ra để đem chôn cất. Đã có một chương trình quyên góp để mua tủ đá tặng cụ để cụ cất tạm xác thai nhi lấy được trong đêm, chờ hôm sau có người chôn. Câu chuyện thứ hai: 2-3 năm trước, có 1 nhóm các sư ở Thái Nguyên đã làm lễ cầu siêu cho 50.000 sinh linh nhỏ bé bị nạo. Một sự thật đau xót. Có 1 chương trình trang bị lò thiêu cho các bệnh viện phụ sản để hoả thiêu, nếu không thì sẽ trở thành rác thải y tế, khó xử lý. Nhưng có một thứ nghiêm trọng hơn, những linh hồn không được siêu thoát kia sẽ khiến âm khí của đất nước trở nên nặng nề và khó có thể phát triển.

Một câu chuyện khác, tôi không nhớ rõ nghe từ ai, nhưng một bạn có bố làm nghề y kể lại, bác có thực hiện nạo phá thai, mỗi lần như vậy bác phải trốn đi trong đêm để mang vứt xác thai nhi. Tôi không biết các phòng khám tư sẽ xử lý xác thai nhi như thế nào. Thực sự không dám nghĩ tới. Bạn nghĩ sao? Nếu đặt địa vị mình vào vị trí của thai nhi bị bố mẹ nạo phá? Xót xa đúng không ạ? Tôi hi vọng các bạn trẻ sẽ biết được điều này để sống có trách nhiệm hơn và sinh hoạt tình dục một cách an toàn. Lời khuyên của tôi, có những thứ không nên thử, vì thử sẽ nghiện, và chỉ 1 lần sai sót có thể đổi bằng nghìn kiếp sau.

Có một điều phải làm rõ: các trường hợp thai lưu là một sự sàng lọc tự nhiên. Khi thai nhi vì một nguyên nhân nào đó không thể tồn tại được sẽ bị chết lưu và cơ thể người mẹ sẽ đào thải cái thai ra ngoài. Sinh linh bé nhỏ sẽ trở lại với đúng cha mẹ mình vào thời kỳ thụ thai thành công lần sau. Nên các cặp vợ chồng không may bị thai lưu không cần phải lo lắng, mọi chuyện sẽ ổn.

Chúng ta kết thúc câu chuyện buồn tại đây, dành 1 phút mặc niệm cho các sinh linh bé nhỏ, và tiếp tục cuộc hành trình. Hãy gạt nước mắt đi, mọi thứ nằm ở phía trước. Mời các bạn xem clip: Tiến trình thụ thai và phát triển thai nhi.

http://www.youtube.com/watch?v=a8SKpIJp77w

2. Trẻ có thể học và thèm khát được học

Trẻ sinh ra đã mang sẵn trong mình tiềm năng học hỏi và thích nghi để có thể tồn tại. 6 đặc trưng của trẻ khiến chúng thích nghi cực tốt:

- Hình thành mẫn cảm: Sự vật mà con trẻ tiếp xúc sớm nhất, nhiều nhất và thấy vui thích nhất sẽ là cái mà chúng yêu nhất.

- Hình thành ấn tượng: một ấn tượng thường xuyên được lặp lại giống như một hình ảnh được khắc sâu trong từng tế bào não, nó sẽ theo đứa trẻ đó trong suốt cuộc đời và hình thành thói quen khó sửa.

- Trí nhớ hình ảnh: Trí nhớ của người trưởng thành là trí nhớ phân tích và trí nhớ giải thích. Nhưng trí nhớ của trẻ nhỏ không cần phân tích hay giải thích, chúng hoàn toàn dựa vào ấn tượng. Não trẻ nhỏ giống như một máy quay phim, quay lại những hình ảnh và những âm thanh, sau đó trong cuộc sống dần lĩnh hội.

- Lĩnh ngộ tình cảnh: Trẻ nhỏ giải thích sự vật, không dựa vào suy luận, cũng không dựa vào giải thích, hoàn toàn dựa vào trí tuệ đặc biệt, tự nhiên lĩnh ngộ từ trong tình huống của cuộc sống.

- Bản năng bắt chước: khả năng mô phỏng và thích thú mô phỏng.

- Cảm hứng khám phá: thích những sự vật mới mẻ, sinh động, rõ ràng, có tình tiết, sẵn sàng đi xem, sờ và chơi cùng.

Thực tế chúng đã học được gì?

- Phân biệt mặt người, nhận biết hành vi của người khác.

- Học cách đứng thẳng, đi lại và vận động, rồi chạy, nhảy, lăn lê bò toài, vận động thoải mái. Nếu được giáo dục một cách khoa học, đứa trẻ 2, 3 tuổi cũng rất dễ dàng học bơi lội, trượt băng, đánh bóng, đi thăng bằng.

- Nhận biết vạn vật, ghi nhớ sự việc, nhận thức thế giới độc đáo, phức tạp thiên biến vạn hóa.

- Phân công chân tay, dùng tay sử dụng dụng cụ lao động.

- Học được ngôn ngữ thính giác (nghe và nói chuyện), có thể học đọc và học nhiều ngôn ngữ.

- Phát triển tâm lý cao cấp của con người trong vô thức. Trẻ 6 tuổi có thể có khả năng cảm nhận rất nhạy cảm, khả năng chú ý rất tập trung, khả năng quan sát tinh tế, khả năng ghi nhớ rất cao, tư duy rộng mở, trí tưởng tượng phong phú, cảm hứng rộng mở, tình cảm và cảm xúc ổn định và tốt đẹp, ý chí rất kiên cường và những phẩm chất tính cách ưu tú.

- Học hỏi và tích lũy kiến thức: theo thống kê của giới tâm lý học quốc tế, có đến 95% tri thức khái niệm trong đời một con người là học được trong năm năm đầu đời, chỉ có một phần nhỏ tri thức chuyên môn (khoảng 5%) là khi trưởng thành chúng ta học được thông qua trường học hoặc học từ xã hội.

Thực tế chúng ta thấy, những trẻ được nuôi dưỡng đầy đủ đã thể hiện khả năng của mình như thế nào và khi trưởng thành đã trở thành những nhân vật lớn, đi vào lịch sử, ví dụ như: Karl Witte, tổng thống mỹ Roser Velt, ...

3. Trẻ sống trong môi trường nào sẽ thích nghi với môi trường đó

3.1.Người sói Kamala và Amala

Trên thế giới có nhiều trường hợp trẻ được nuôi bởi động vật như sói, gấu, báo hay vượn. Xin trích một đoạn nói về hai cô bé người sói được viết trong cuốn “Phương án 0 tuổi – chiếc nôi ươm hạt giống tài năng”, từ trang 41 – 43.

Theo những ghi chép còn lưu lại trong các tài liệu thì, những đứa trẻ hoang dã nổi tiếng nhất là hai đứa trẻ người sói ở Ấn Độ. Năm 1941, hai vị Giáo sư của trường đại học Denver và Yale Mỹ đã công bố về hai đứa trẻ người sói, tin tức này đã làm chấn động thế giới, gây sự chú ý cho các nhà tâm lý trong suốt mấy chục năm liền.

Đó là vào năm 1920, tại xóm núi Midnapore thuộc tỉnh Bengale trên đất nước Ấn Độ, người ta đã phát hiện ra có hai sinh vật đầu tóc xõa rũ rượi, mình trần như nhộng chạy theo và sinh sống lẫn trong một bầy sói. Những người dân bản địa vô cùng sợ hãi, cho rằng đó là hai con yêu quái. Khi ấy, có một Giáo sĩ truyền đạo tên là Singh đến từ Mỹ, đã dũng cảm tìm hiểu, lần theo vết tích của bầy sói. Quả nhiên, một ngày kia ông đã phát hiện ra có hai bé gái lẫn trong bầy sói đó. Singh dùng vũ lực để đuổi những con sói già, nhờ đó cứu được hai cô bé này. Mọi người đều cho rằng hai cô bé này chính là hai bé gái từ nhỏ không may bị sói mẹ tha đi và lớn lên trong hang sói.

Hai cô bé được cứu về nhưng không ai biết là con cái nhà ai. Cô gái nhỏ khoảng ba tuổi, được đặt tên là Amala, còn cô gái lớn chừng tám tuổi, được đặt tên là Kamala. Tuy đã được cứu về sống với thế giới của loài người, song do từ nhỏ hai cô bé đã bị mất đi quá trình giáo dục sớm nên tất cả những hiện tượng tâm lý của con người đều bị mai một hoàn toàn. Đặc điềm khác biệt rõ nhất của hai cô bé này là:

Thứ nhất, không chịu mặc quần áo, nếu bị bắt ép mặc quần áo cũng không biết cởi, họ thường dùng móng cào rách quần áo. Hai cô bé tuyệt nhiên không có cảm giác xấu hổ của con người.

Thứ hai, không chịu ăn thức ăn chín cũng không ăn các loại ngũ cốc và lương thực, chỉ ăn thịt sống, gà sống, thậm chí ăn cả thịt động vật đã thối rữa. Hai cô bé thích uống sữa bò, nhưng nếu đổ sữa ra đất, hai cô bé sẽ liếm.

Thứ ba, không chịu đi ngủ cũng không chịu đắp chăn, khi ngủ thường nằm sấp dưới đất mà không sợ lạnh. Hơn nữa, hai cô bé thường ngủ ngày và chỉ hoạt động vào ban đêm, thậm chí nửa đêm còn trèo ra ngoài cửa cất tiếng hú.

Thứ tư, không biết đứng, càng không biết thẳng lưng đi lại.

Thứ năm là không biết nói chuyện, không nói được tiếng người và đặc biệt là không biết cười. Cười là một hiện tượng tâm lý riêng chỉ có ở con người. Hai cô bé này cả ngày không cười, nét mặt lúc nào cũng nghiêm nghị.

Thứ sáu, xúc giác thuộc về hai cô bé vô cùng mẫn cảm, đặc biệt không ra mồ hôi. Hai cô bé ưa bóng tối, thích tiếp cận với các loài động vật khác như chó, sơn dương.

Tất cả những biểu hiện của con người của hai cô bé này đã bị biến mất, nói gì tới trí tuệ! Đây hoàn toàn là do trong quá trình sinh trưởng phát triển, não bộ của hai cô bé đã mất đi những ảnh hưởng về môi trường sống của con người, nó không được tiếp nhận bất cứ sự giáo dục nào ngay từ đầu. Ngoài ra, hai cô bé còn phải thích nghi với cuộc sống của loài sói, vậy nên trí tuệ tiềm ẩn của họ bị vùi lấp là điều hết sức tự nhiên và dường như không thể bù đắp lại được.

3.2.Hình ảnh cô gái Oxana được nuôi bởi chó

Cô gái Oxana người ukraina được nuôi bởi chó, trong 6 năm (hình như từ 4-10 tuổi). Đây là video được chị Hường, chuyên gia của viện nghiên cứu giáo dục phát triển tiềm năng con người (IPD) cung cấp.

http://www.youtube.com/watch?v=UkX47t2QaRs

Và một trường hợp khác, nuôi bởi gà.

http://www.youtube.com/watch?v=pex4a1wntso

Các bạn ngạc nhiên đúng không? Những hình ảnh này một lần nữa chứng minh khả năng sinh tồn vô cùng to lớn của trẻ nhỏ.

3.3.Các em bé lai có thể nói nhiều thứ tiếng

Chúng ta đã nghe nhiều câu chuyện về trẻ em lai, hoặc sống trong môi trường đa ngôn ngữ. Nói chuyện với bố bằng tiếng Anh, với mẹ bằng tiếng Việt, với bà bằng tiếng Tây Ban Nha và đi học thì nói tiếng Trung Quốc. Dù các bạn tin hay không thì đến khi gặp chúng các bạn sẽ thấy. Cá nhân tôi cũng đã từng được sống ở Liên Xô khi theo bố mẹ công tác. Tôi ở Liên Xô từ năm 4-6 tuổi, sau đó 10 tuổi quay lại và sống đến năm 12 tuổi. Đợt đầu thì tôi còn nhỏ nên không có nhiều ký ức, nhưng lần thứ hai sang Liên Xô, tôi vẫn còn nhớ rất nhiều. Thời gian đầu tôi đi học lớp mẫu giáo lớn với trẻ em bên đó, sau 6 tháng thì đi học lớp 3 với trẻ em Nga. Tất nhiên tôi gặp nhiều khó khăn trong việc học những môn liên quan nhiều đến ngôn ngữ như lịch sử, địa lý, văn học, tiếng Nga, v...v... nhưng tôi chơi và giao tiếp bình thường với trẻ em Nga, tôi xem phim và hiểu gần như 90% nội dung phim, thậm chí còn dịch lại cho mẹ 1 số đoạn. Có một giai đoạn bố tôi quyết tâm dồn tiền cho tôi đi học gia sư ở nhà 1 cô giáo già, chủ yếu là học về ngữ pháp vì không ai dạy tôi những điều này, sau vài tháng thì môn tiếng Nga của tôi đã khá hơn và kỷ lục là đạt điểm 4/5 môn tiếng Nga, điểm số trên mức trung bình so với các bạn Nga. Sau đó không lâu thì gia đình tôi chuyển hẳn về Việt Nam nên không được phát huy thêm. Nhưng có thể nói chính tôi đã được sống trong môi trường hai ngôn ngữ và thích nghi được, tất nhiên, bây giờ tôi không còn nhớ gì nhiều, nhưng nếu học lại cũng sẽ rất nhanh, phát âm rất “Nga” (1 người Việt ở Nga đã từng phát biểu rằng em chưa thấy một ai nói tiếng Nga tự nhiên như thế, điều này rất hợp logic của giáo dục sớm). Một minh chứng sống cho các bạn.

4. Các quy luật phát triển trí não và năng lực

5. Tâm lý trẻ trước 6 tuổi

5.1.Theo Phương án 0 tuổi

Đặc điểm tâm lý của trẻ nhỏ

Phần lớn các cha mẹ điều biết cách làm thế nào để con mình có được một cơ thể khỏe mạnh, phát triển tốt. Nhưng rất nhiều người không có kiến thức về sức khỏe tâm lý, sinh mệnh thứ hai của trẻ nhỏ, dẫn đến việc làm tổn hại tâm lý của con và gây ra những phản ứng tiêu cực, chống đối. Vì vậy, các cha mẹ cần nắm được kiến thức tâm lý học để hiểu rõ dược trình độ phát triển tâm lý của con và hiểu được cơ bản về tâm hồn đang thay đổi của con.

Tinh thần là nguồn sức mạnh to lớn, lớn hơn nhiều sức mạnh thể lực mà cơ thể có thể sản sinh ra, là yếu tố giúp thay đổi thế giới. Nguồn sức mạnh này gần như vô tận. Dưới đây là một số kiến thức cơ bản về tâm lý học và phát triển trình độ tâm lý của trẻ nhỏ.

5.1.1.Khái niệm tâm lý và con đường hình thành tâm lý

Tâm lý là danh từ chỉ các hiện tượng tâm lý như cảm giác, tri giác, khả năng ghi nhớ, tư duy, trí tưởng tượng, tình cảm, ý chí, khí chất, năng lực, tính cách, v...v... Hiện tượng tâm ls của con người vô cùng phức tạp, tâm lý của mỗi người lại rất khác nhau, có tốt, có xấu, nhưng đều hình thành từ những phản ánh chủ yếu của các sự vật khách quan vào trong bộ não con người. Nếu không có sự vật khách quan và thực tiễn của con người thì trí óc sẽ trống rỗng, tinh thần nghèo nàn, khi đó não sẽ không xuất hiện các hiện tượng tâm lý mà ngược lại kết cấu não và các tế bào não sẽ teo lại.

Ví dụ:

- Nếu không nhận thức thế giới và đưa ra câu hỏi, không thể có được cảm giác, trí nhớ và tư duy.

- Nếu không giao lưu bạn bè, không chơi trò chơi thì không có niềm vui, tình bạn, niềm hạnh phúc.

- Nếu không hoạt động chân tay và động não thì không thể sáng tạo, tư duy và tưởng tượng.

- Nếu không đọc sách, suy nghĩ và liên hệ với thực tiễn thì không phát triển ngôn ngữ, tiếp thu tri thức và kinh nghiệm của nhân loại.

Tóm lại, cần làm cho trẻ có thực tiễn cuộc sống phong phú đa dạng.

5.1.2.Tầm quan trọng của việc phát triển tâm lý cho trẻ nhỏ

Quy luật quan trọng là tuổi càng nhỏ, tâm lý phát triển càng nhanh. Nếu tận dụng giai đoạn phát triển này, trẻ sẽ thu được kết quả lớn hơn nhiều so với giai đoạn sau. Nếu đến giai đoạn tâm lý đã hình thành vững chắc thì sẽ rất khó để thay đổi.

5.1.3.Sự phân chia chức năng tâm lý

- Phẩm chất về trí tuệ: khả năng tập trung chú ý, khả năng quan sát, khả năng ghi nhớ, khả năng tư duy, trí tưởng tượng, năng lực tự học tập, khả năng thao tác, khả năng sáng tạo v...v...

- Phẩm chất phi trí tuệ: thói quen, niềm đam mê, tình cảm, ý chí, tính cách, v...v...

6.Trẻ khuyết tật

Ai cũng muốn con mình lớn lên mạnh khỏe, nhưng đôi khi vẫn có những trường hợp, đứa trẻ sinh ra và lớn lên không được như những đứa trẻ khác. Thật đáng tiếc là ngày càng có nhiều trẻ khuyết tật, một phần trong số đó đến từ các cha mẹ. Tôi xin dành 1 vài trang để nói về các trẻ bị tổn thương, chúng ta cần biết con mình có bị gì không? làm thế nào để tránh? và nếu đã bị rồi thì làm thế nào để chữa? Tôi mong mọi trẻ em đều được phát triển tối đa có thể.

6.1.Trẻ khuyết tật bẩm sinh do gen di truyền

Nguyên nhân cơ bản có thể kể ra một trường hợp sau:

- Kết hôn cận huyết thống sẽ có nguy cơ cao bị khuyết tật bẩm sinh. Vì thế cấm kết hôn cận huyết thống không chỉ có ý nghĩa tâm linh, văn hóa mà quan trọng hơn là yếu tố khoa học.

- Bố hoặc mẹ mang gen khuyết tật hoặc bệnh di truyền từ đời trước.

- Những tác động từ chiến tranh, từ chất độc hóa học, từ chất phóng xạ, từ môi trường làm việc độc hại.

6.2.Trẻ khuyết tật bẩm sinh do mẹ bị những tác động trong thời kỳ mang thai

Nhiều trường hợp chúng ta không thể tránh nhưng có những trường hợp chúng ta có thể làm chủ được. Nếu bạn search cụm từ “nguyên nhân trẻ tự kỷ” sẽ thấy có nhiều yếu tố có thể tác động đến trẻ. Tôi xin thống kê một số nguyên nhân sau:

- Tác động từ môi trường: âm thanh, không khí, nguồn nước, v...v...

- Tác động từ thực phẩm: thực phẩm không sạch, chứa nhiều chất bảo quản, v...v...

- Dinh dưỡng không đầy đủ của người mẹ

- Người mẹ mắc bệnh: đái tháo đường, cúm, sởi, rubela, v...v...

- Người mẹ bị nhiễm trùng

- Người mẹ dùng thuốc không đúng cách: các loại kháng sinh là một ví dụ.

- Sự căng thẳng trong quá trình mang thai

- Tư tưởng không tốt: ví dụ chót có thai nên muốn bỏ nó

Và có thể còn nhiều nguyên nhân khác.

Có một số điều phụ nữ nên cẩn thận vào thời điểm sinh con (thông tin từ hội thảo của chị Lê Thị Phương Nga, tác giả cuốn “Đưa con trở lại thiên đường”):

- Thời gian chuyển dạ không được quá lâu, dưới 6 tiếng.

-  Đẻ mổ trước thời điểm chuyển dạ, thai nhi bị đưa ra ngoài khi chưa sẵn sàng sẽ khiến trẻ bị thiếu oxy.

- Con sinh ra mà da bị trắng chứng tỏ máu xuống não bị thiếu.

Phần này kiến thức của chúng tôi còn hạn chế, rất mong các cha mẹ, hãy để ý, tìm hiểu, chia sẻ và cố gắng hạn chế tối đa những tác động có hại trong thời kỳ mang thai, giữ tâm lý ổn định, thoải mái, yêu thương để con sau này khỏe mạnh và thông minh.

6.3.Trẻ phát triển không bình thường do môi trường và cha mẹ nuôi dạy theo phương pháp không phù hợp

Vẫn tiếp tục search cụm từ “nguyên nhân trẻ tự kỷ”, bạn sẽ thấy có các bài viết như:

- Trẻ mắc bệnh tự kỷ do cách chăm sóc của cha mẹ.

http://ykhoa.net/yhocphothong/nhikhoa/03091633.htm

- Trẻ mắc tự kỷ gia tăng do gia đình thiếu hiểu biết

http://vov.vn/Suc-khoe/Tre-mac-tu-ky-gia-tang-do-gia-dinh-thieu-hieu-biet/212770.vov

- Nguyên nhân rối loạn tự kỷ ở trẻ em

http://truongchuyenbietbimbim.com/view-detail.php?thread=163&title=NGUY%C3%8AN%20NH%C3%82N%20C%E1%BB%A6A%20R%E1%BB%90I%20LO%E1%BA%A0N%20T%E1%BB%B0%20K%E1%BB%B6%20%E1%BB%9E%20TR%E1%BA%BA%20EM

- Một số trường hợp trẻ bị bắt ép học hoặc làm những việc trẻ không thích cũng có thể gây ra tâm lý phản kháng, lo sợ khi tiếp xúc với những dấu hiệu liên quan đến điều khiến trẻ sợ.

Chúng ta không thể hoàn toàn đổ lỗi cho các cha mẹ nhưng tôi nhớ đã đọc trên 1 trang web nào đó: 50% trẻ tự kỷ có tiền sử bị bố mẹ bỏ rơi . Mong các phụ huynh hãy chú ý để không vô tình khiến con mình rơi vào tình cảnh này. Trẻ cần được yêu thương, quan tâm và chăm sóc.

6.4.Đưa con trở lại thiên đường

Đây là cuốn sách kể về hành trình của chị Lê Thị Phương Nga, một bà mẹ đã kiên trì chữa cho con mình, từ một trẻ bị tự kỷ nặng quay trở lại với cuộc sống của một người bình thường. Sống như người bình thường có thể coi là thiên đường của trẻ tự kỷ và chị đã làm được điều đó. Mời các bạn xem cuốn sách được chị Loan gõ lại và chia sẻ trên blog cá nhân của mình.

Xem đầy đủ cuốn sách tại: http://loanbb.wordpress.com/2012/08/03/dua-con-tro-lai-thien-duong-tac-gia-le-thi-phuong-nga/

Dưới đây tôi xin có phần tổng kết ngắn một số nội dung mà tôi thấy quan trọng:

Chương 1: ngõ tối

Những ký ức không thể nào quên về bế Cún nicky - đứa con trai tự kỷ của tôi. "Con ơi, con làm sao thế?" --- một số ví dụ trẻ tự kỷ, các dấu hiệu nhận biết. Mấy tầng địa ngục --- những khó khăn vất vả khi con bị tự kỷ nặng, của chị và 1 số gia đình khác.

Cứu con tôi với, có ai không? --- gặp được cuốn sách của GS Glenn Doman, mô tả rõ về bệnh tự kỷ, và đặc biệt: Cha mẹ là câu trả lời, chị không tin, nhưng chuyến viếng thăm một bé từng bị sống thực vật và đã chữa khỏi đã giúp chị tin tưởng. Tỷ lệ thành công của GS Doman là 76%. Câu chuyện của GS Doman đi tìm lời giải. Ông phát hiện ra trẻ về nhà phục hồi nhanh hơn ở bệnh viện, ông tìm hiểu và ngạc nhiên khi thấy các bà mẹ không làm gì cả, nhưng có 2 điều quan trọng: đặt con nằm sấp dưới sàn khiến bé tự vận động, và thời lượng tác động ngắn nhưng lặp lại tác động đó vài chục lần trong ngày. Đó là lý do: “CHA MẸ CHÍNH LÀ CÂU TRẢ LỜI”

Tìm lại đứa con bị thất lạc --- chị đã tìm đến BS Glenn Doman để học trị liệu và BS Vicent J Carbone về giáo dục trẻ chậm phát triển. Sau đó, không chỉ giúp được con mình, chị cũng đã giúp nhiều bé khác bằng chương trình tập huấn Bé yêu bé giỏi.

Chương 2: Cõi tai ương

Gốc rễ và cành lá. --- Giải thích: não là nguyên nhân dẫn đến các dấu hiệu. Vì thế cần phải chữa não (gốc rễ) chứ không chữa các dấu hiệu (cành lá). Nếu tế bào não ở vùng nào đó bị chết thì chức năng mà vùng đó điều khiển sẽ kém phát triển hoặc mất hẳn, khi các chức năng cơ bản kém thì các kỹ năng (phải qua đào tạo) cũng rất khó hình thành. Những vùng não chết rất nhỏ, nằm rải rác ở nhiều khu vực. Có những nhà bác học lớn cũng bị khuyết tật ở não, vd: Louis Pasteur người phát minh ra vacxin, bán cầu não phải bị teo; Stephen Hawking phải ngồi xe lăn suốt đời nhưng vẫn phát minh và giảng trên trường đại học; Alber Anhxtanh cũng 4 tuổi mới biết nói; Người bình thường, 35 tuổi não cũng bắt đầu thoái hóa. Chị đã đưa ra một số ví dụ về chữa “cành lá” mà không chữa “gốc rễ”. Bại não sinh ra các triệu chứng và được người đời gán cho nhiều tên như: thiểu năng trí tuệ, trí tuệ kém, chậm phát triển tâm thần vận động, sống thực vật, liệt não, động kinh co gồng (co cơ), tự kỷ, rối loạn tập trung chú ý, chậm phát triển, hội chứng down, tăng động, v…v… bản chất là bại não.

Bé tự kỷ là ai? --- Khả năng quan trọng nhất để chung sống với cộng đồng: khả năng giao tiếp, để làm được điều này cần cảm nhận được và diễn đạt được. Khi não bị tổn thương, nó không xử lý đúng được các cảm nhận từ các giác quan, dẫn đến việc cảm nhận bị sai đi và dẫn đến việc diễn đạt, phản ứng lại cũng khác thường. Khái niệm rối loạn phát triển lan tỏa: một số tế bào não bị chết khiến vùng đó không đủ quân số để hoàn thành tốt nhiệm vụ -> rối loạn phát triển; một số tế bào não bị chết khiến máu lưu thông qua nó không được, dẫn đến các tế bào xung quanh dù khỏe mạnh nhưng không nhận đủ oxy và dưỡng chất nên cũng bị rối loạn nho nhỏ -> rối loạn lan tỏa. Thiếu oxy sẽ nghiêm trọng hơn khi nhiệt độ cao, nếu nhiệt độ thấp bé sẽ dễ chịu hơn. Bé uống nước quá nhiều (1200ml / ngày) thì não cũng sẽ thiếu oxy, bé tăng động hoặc động kinh bị rối loạn cơ quan vị giác khiến bé luôn có cảm giác khát nước, chỉ khi bị sốt mới cần uống 2000ml/ngày. Khi chơi với bé, mông thấp hơn đầu cũng làm não có thêm oxy, vì thế nhiều trẻ rất thích chổng ngược, khi huyết áp cao hơn, tự các bé sẽ biết ngẩng đầu trở lại. Trẻ tự kỷ cũng rất thông minh, hoàn toàn tiếp nhận được tác động bên ngoài, nhưng không biết thể hiện ra, chỉ qua chương trình trị liệu để phục hồi chức năng thì dần dần các bé mới có thể diễn tả ra được, rất nhiều bé sau khi phục hồi đã mô tả lại sự bức bối của mình trước đây.

Nhà giam nhỏ nhất thế giới. --- Chị giải thích các rối loạn cảm giác nào thì gây ra hiện tượng gì. Ví dụ Rối loạn thị giác: nhìn các vật lúc to lúc nhỏ lúc nhòe lúc quá rõ, gọi là loạn thị, dẫn đến biểu hiện: để đồ chính xác từng milimet, nghiêng đầu, nhíu mắt, ấn mắt, che mắt, quay đi, không nhìn lâu, thích nhìn vật chuyển động -> thích xoay tròn để tạo hình ảnh động, v…v… đeo kính loạn chỉ làm bệnh nặng thêm. Cách chữa: dắt con đi bộ nhiều, siêng tập thể dục. Còn rối loạn thính giác, xúc giác, vị giác, các rối loạn khác, rối loạn ngôn ngữ, rất nhiều. Vì các rối loạn nên bé nhận thức sai về thế giới dẫn đến phản ứng sai, tất cả chỉ vì thiểu năng não bộ - bị giam trong nhà giam chỉ nặng 1,5 kg.

Chương 3: Thức đêm mới biết đêm dài

Mê cung tối --- Những khó khăn khi tìm cách chữa cho con. Các phụ huynh VN chỉ theo dõi biểu đồ chiều cao, cân nặng mà không để ý đến 1 điều quan trọng hơn: con đã biết làm gì để biết hệ thần kinh của bé có phát triển bình thường không. Những người tìm được thông tin thì chỉ biết lo mà không tìm ra giải pháp. Khi đến bác sĩ thì gặp đủ kiểu bác sĩ và kết quả cuối cùng chẳng ra gì.

Vì sao lại thế --- Các BS thiếu kiến thức chuyên sâu nên tỷ lệ bệnh nhân hồi phục thấp, các BS nghèo nên không thể dự các lớp đào tạo chuyên môn cao, đồng lương và sự hạn chế của cơ chế cũng khiến cho các BS phải chịu tình trạng “suy dinh dưỡng” về mặt khoa học.

Tôi không thuộc bài! --- sai lầm của vợ chồng chị: sau khi học hóa học cơ bản của GS Glenn Doman về dạy con, phục hồi chức năng tốt nhưng phần giáo dục trị liệu thì làm không thành công vì bé phản ứng lại. Rồi hai vợ chồng tìm các loại sách, báo, website, v…v… về tự đọc, nghiên cứu, thực hành, mất 4 tháng càng dạy bé càng phản ứng. Rồi chồng chị quyết định liên hệ hội phụ huynh trẻ tự kỷ ở Mỹ và được giới thiệu BS Carbone, một bác sĩ tìm trên mạng internet không thấy nhưng muốn học phải đăng ký trước 1 năm. May sao gia đình chị ở xa nửa vòng trái đất nên BS động lòng cho phép. Sau khi học xong chị về áp dụng rất thành công. Chị rút ra bài học: bệnh phức tạp thì phương pháp trị liệu cũng phức tạp, không có con đường nào dễ cả, vì thế, mọi sách vở đều chỉ mang tính tham khảo. Lời khuyên của chị: khi chọn 1 phương pháp nào đó, cần quan tâm 2 điều: kết quả trị liệu (mức độ tiến bộ và tiến độ phục hồi) và tỷ lệ thành công (trên 50%). 

Mổ và xẻ --- trị liệu cho con giống như bác sĩ mổ chữa bệnh cho bệnh nhân, cần kho tàng tri thức khổng lồ, phải đào sâu thực sự. Chị đã phải học 2 khóa cơ bản và 12 khóa nâng cao để đạt được trình độ chữa được cho con. Nếu chữa cho con sai, thì giống như việc thay vì mổ để chữa thì chúng ta xẻ thịt làm con mình đau đớn thêm.

Ngộ độc và hậu quả của nó --- những kỳ thị, lời nói cay độc của xã hội, những người xung quanh, cả trong gia đình; sự lo lắng trầm cảm của cha mẹ có con bị tự kỷ; mặc cảm và quyết định giấu con đi là những nguyên nhân khiến trẻ càng ít có cơ hội chữa khỏi.

Chương 4: Được yêu thương sưởi ấm

Ếch, giếng và bầu trời. --- sự nhầm tưởng “đã giỏi” của các phụ huynh là vấn đề nghiêm trọng, việc học phải diễn ra liên tục, và đừng ngại khó ngại khổ đi học.

Bụt và cô tấm --- Bụt trong truyện tấm cám không làm giúp Tấm và chỉ hỏi “vì sao con khóc” rồi chỉ hướng dẫn cho Tấm cách giải quyết vấn đề, Tấm phải tự làm. Glenn Doman cũng vậy, ông hướng dẫn cho chị cách trị liệu cho con, tự chị phải làm tất cả. Cách này hoàn toàn khác với quan niệm bình thường: có bệnh thì gặp bác sĩ.

Tài khoản yêu thương --- Trách nhiệm mang đến tình yêu thương. Cho anh chị trách nhiệm chăm sóc em -> yêu thương em; cha mẹ thể hiện trách nhiệm chăm sóc con -> con sẽ yêu thương; cho con làm việc và gánh trách nhiệm -> con sẽ tự trở nên dễ thương, nhưng phải hướng dẫn con và chấp nhận “dọn dẹp” và “làm lại”.

Bên đời hiu quạnh --- bé bị thiểu năng não thường kém kỹ năng giao tiếp -> không làm được các kỹ năng khác + không thể giao tiếp -> tự ti, mặc cảm dễ dẫn đến chỉ thích chơi 1 mình, tách biệt thế giới bên ngoài. Vì thế, cha mẹ phải: Đừng phớt lờ khi bé phát ra bất kỳ âm nào; Đừng hỏi đi hỏi lại những câu ngớ ngẩn; Đừng nói chuyện với nhau mà không nói với bé khi bé đang có mặt; Đừng nói chuyện với nhau về bé mà không nói với bé khi bé đang có mặt; Đừng dùng giọng kể cả với con; Nói trước tất cả những việc bạn định làm (kể cả sắp bị tiêm, giúp bé chuẩn bị tinh thần tốt hơn);

Mẹ và cô: ấy hai mẹ hiền --- sự giúp đỡ của 3 người bạn cùng với chị chăm bé.

Chuyện nhỏ --- quá trình trị liệu của chị cho con, dòng giã 8 năm trời, đặc biệt có khoảng thời gian 1,5 năm, từ năm thứ 3-5 con chị không tiến triển gì, chị đã định bỏ cuộc, nhưng vì không tìm ra phương pháp nào khác và biết bỏ cuộc là sẽ mất tất cả nên anh chị vẫn kiên trì nhẫn nại và đã thành công. Bố bé làm xa nên chỉ ở nhà vào cuối tuần nhưng cũng đủ để cho bé thấy tình yêu thương của mình bằng việc dạy bé những điều mà mẹ và các cô không dạy được. Và dần dần các gia đình tìm đến, chị không nỡ thấy chết mà không cứu nên đã chấp nhận việc huấn luyện các phụ huynh khác và coi đó như sứ mệnh của mình.

Những liều linh đơn --- Những niềm động viên của chị: kết quả phục hồi của các bé.

Game thủ --- Sự dũng cảm khi chống lại quan niệm chữa bệnh là việc của bác sĩ, để đầu tư cho việc học và tự điều trị cho con.

Cuộc chạy đua vũ trang dễ thương nhất trên đời. --- cuộc đua của các cha mẹ trong việc dạy con tạo ra những đứa trẻ thông minh, khỏe mạnh, sau này thành những thanh niên ưu tú dựng xây đất nước.

Tôi ơi đừng tuyệt vọng --- niềm tin của cha mẹ là điều quan trọng nhất. Nhân định thắng thiên. Và hãy coi việc có con bị tự kỷ là một may mắn, vì như chị, vì con bị tự kỷ, chị đã thay đổi cách đối xử với hai bé lớn, cứu được tình cảm mẹ con, việc chăm sóc con nặng nhọc nhưng lại là những bài tập thể dục tuyệt vời, chị học được phải bình tĩnh, kiên trì, siêng năng, sử dụng năng lượng đúng nơi đúng cách, biết yêu thương, biết tự tìm sự an ủi. Chúng ta hãy biết chọn lọc và dám đối mặt để tự tìm ra con đường đi tốt nhất trong hoàn cảnh của mình.

Ở Việt Nam có nhiều nơi trị liệu và dạy cách trị liệu cho trẻ tự kỷ. Bệnh tự kỷ do tổn thương não không thể chữa được, nhưng hoàn toàn có thể phát triển phần nào những chức năng bị thiếu sót và đẩy mạnh những chức năng khác để trẻ có thể sống như một người bình thường và hòa nhập với xã hội.

6.5.Trẻ tự kỷ có khả năng đặc biệt

Có 1 bài báo phỏng vấn bác sĩ Quách Thúy Minh, nguyên Trưởng khoa Tâm bệnh, Bệnh viện Nhi Trung ương với tiêu đề “Vì sao trẻ tự kỷ sở hữu tài năng đặc biệt?”, về cơ bản theo bác sĩ thì tỷ lệ này là không nhiều. Bạn có thể tham khảo:

http://infonet.vn/vi-sao-tre-tu-ky-so-huu-tai-nang-dac-biet-post72193.info

Có rất nhiều trường hợp trẻ tự kỷ tài năng. Nếu search từ khóa “tự kỷ” và “tài năng” với nhau, bạn sẽ thấy rất nhiều bài báo. Xin đưa một bài thú vị: “Họ tài năng là nhờ … tự kỷ”: đưa ra những biểu hiện tự kỷ của Albert Einstein, Benjamin Franklin, Isaac Newton, Bill Gates, Alfred Hitchcock,  v...v...

http://www.dphanoi.org.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=2452

Cuối cùng, đây là hình ảnh một cậu bé bị bệnh Down, nhưng đã trở thành một nhạc trưởng tài năng. Mời các bạn xem clip về cậu bé ZoZo, clip này được chia sẻ bởi chị Yên, giám đốc công ty VMIT, một đơn tư vấn xem vân tay đoán tính cách và định hướng nghề nghiệp.

http://www.youtube.com/watch?v=1PcnZzoAMLM

Các bạn nghĩ sao? Có phải mọi trẻ em đều là thiên tài?

Chúng tôi mong, các bạn hãy yêu quý con mình đúng cách, cho dù chúng là con trai hay con gái, lớn hay nhỏ, khỏe hay bệnh, đó đều là món quà chúng ta được ban tặng,

hãy trân trọng và yêu thương!

Và hãy nhớ:

“Mọi trẻ em đều là thiên tài !”

 

Viết bình luận