Giáo Dục trẻ từ sớm - Phần 3

20/ 02/ 2017 4:22:26 CH 0 Bình luận

                        Phần 3: Dinh dưỡng và sức khỏe

Chương 1: Chế độ sinh hoạt khoa học

Định hình thói quen sinh hoạt là điều rất quan trọng.

1. Chế độ ăn hợp lý

1.1. Tầm quan trọng của việc ăn có khoa học

Để trẻ em học được cách ăn cơm, không chỉ đảm bảo cơ bản cho sức khỏe của các cháu mà còn phát triển khả năng vận động cơ bắp nhỏ phần tay của các cháu, là bài học quan trọng trong việc bồi dưỡng năng lực sống tự lập và tinh thần trách nhiệm, đồng thời đây cũng là bài học đầu tiên về lòng tự tin.

Nếu tận dụng tốt, mỗi lần ăn cơm đều có thể trở thành một “bài giảng” trên lớp sinh động, 1 ngày 3 bữa, 1 năm 365 ngày, trong 10 năm chúng ta đã có thể dạy các cháu hàng vạn tiết học. Qua mỗi “buổi học” như vậy, có thể bồi dưỡng cho trẻ tính tình vui vẻ, chăm chỉ và tập trung, đồng thời các cháu sẽ học được nhiều kiến thức phong phú qua mỗi lần nói chuyện vui vẻ, nhẹ nhàng, hơn nữa còn tạo ra một không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc.

1.2.Rèn luyện cách ăn theo Phương án 0 tuổi

Phải bắt đầu thực hiện ngay từ khi các cháu còn là trẻ sơ sinh:

- Khi bé yêu bú sữa mẹ, để cho các cháu tự tìm đầu vú của mẹ, không được chủ động nhé đầu vú vào miệng bé.

- Khi bé yêu bú sữa bình, cần phải gần gũi, khuyến khích các bé tự dùng tay ôm bình sữa để ăn sữa, đồng thời dần dần tách rời sự giúp đỡ của người lớn. Sau khi bé yêu lớn hơn một chút, những việc như uống nước, ăn bánh v…v… cũng để cho bé yêu tự cầm cho vào mồm.

- Khi bé yêu khoảng 1 tuổi, cho dù không thể tự mình ăn cơm, người lớn đặt các cháu ngồi vào 1 chiếc ghế cao, ngồi bên cạnh thích thú nhìn mọi người ăn cơm. Khi bắt đầu, người lớn có thể vừa ăn, vừa bón cho các cháu, đồng thời true cháu để cháu có mong muốn tự ăn cơm. Khi bé yêu muồn cầm thìa tự mình xúc ăn, chúng ta nên cổ vũ, giúp đỡ và khen ngợi các cháu.

- Khi cả nhà chuẩn bị ăn cơm, trước tiên phải để các bé rửa tay, lúc này tạo nên một không khí vui vẻ khi ăn cơm.

- Trẻ em sau một 1 tuổi phải cùng ăn cơm với người lớn, cần có chỗ ngồi cố định cho trẻ em, chú ý không được để bé yêu ngồi một mình trên ghế nhỏ lấy bàn trà làm bàn ăn để ăn cơm, như vậy sẽ không bình đẳng với bé yêu, mà còn mất đi bài học sinh động về tính thân thiết, càng không được để cho trẻ chạy đi chạy lại, không được đuổi theo trẻ cho ăn.

- Bé yêu lớn lên một chút sẽ biết chơi trò chơi, trước bữa ăn phải để cho bé yêu thu dọn đồ chơi, không được để đồ chơi lên bàn ăn, sau đó rửa tay ngồi vào bàn ăn.

- Khi bé yêu khoảng 2 tuổi, đã phải biết tự ăn cơm một mình, cần khuyến khích bé dùng đũa, hướng dẫn bé cách cầm đũa. Bé làm rơi vãi cơm không nên trách móc bé, cần khuyến khích bé dùng tay nhặt vào bát, điều này luyện tập động tác cho bé và tạo lập tính trách nhiệm của bé, cũng có thể đọc thuộc bài ca dao: “Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”, và chúng ta cần hiểu rằng “giáo dục bắt đầu từ những việc nhỏ”.

- Khi đứa trẻ từ 3 tuổi trở lên, chúng ta phải dạy bé trước bữa ăn sắp xếp ghế, đũa...cho cả nhà.

- Khi ăn cơm, mọi người đều cần vui vẻ, thể hiện sự muốn ăn, và làm ra dáng vẻ ăn uống ngon miệng, nói những câu như: “thật ngon”, để trẻ cũng hào hứng theo, đồng thời hướng dẫn các bé ăn các món ăn. Thói quen tốt trong ăn uống như ăn nhạt, ít đường, không kén chọn thức ăn...đều phải bắt đầu bồi dưỡng từ khi bé còn nhỏ.

- Trên cơ sở bé yêu chịu khó và vui vẻ ăn cơm, chúng ta dần dần khuyến khích bé yêu ăn nhanh một chút, không rơi vãi thức ăn, cứ mỗi sự tiến bộ của bé đều được thông báo trên bảng biểu dương cho cả nhà.

- Chú ý không được để bé ăn vặt trước bữa ăn để tránh ảnh hưởng đến cảm giác đói khi vào bữa ăn, dẫn đến chức năng tiêu hóa bị rối loạn. Sau bữa cơm một khoảng thời gian nhất định thì cho bé ăn hoa quả.

- Lượng cơm xới cho bé, cần phải căn cứ vào nhu cầu vừa no của bé, không quá ít không quá nhiều, để cho bé ăn hết và ăn no đúng thời gian, đồng thời tạo cho bé cảm thấy vui vẻ, đầy đủ, cảm thấy mình thật là giỏi, không tạo cho bé thói quen xấu để thừa cơm và thức ăn. Sau khi bé ăn cơm xong, chúng ta nên biểu dương và khen ngợi bé.

- Biểu dương bé ăn ngoan cũng cần phải mức độ, thông thường không dỗ dành, không thúc giục, không ép buộc bé, thời gian ăn cơm khoảng 30 phút là tốt nhất.

- Khi ăn cơm, cả nhà cùng nói đến những vấn đề nhẹ nhàng, những kiến thức lý thú, bé lớn hơn một chút có thể cùng tham gia vào câu chuyện đó. Nhưng người lớn không nên nói thích ăn nhất cái gì, không thích ăn món gì, bởi vì như vậy chúng ta sẽ đang giáo dục bé kén chọn thức ăn, hoặc chỉ ăn một vài loại thức ăn. Đối với những món ăn mà bé cần ăn nhưng lại không muốn ăn, người lớn càng cần phải nói món ăn đó ngon.

1.3. Phương pháp ăn dặm kiểu Nhật

1.4. Phương pháp ăn dặm bé tự chỉ huy (Baby Led Winning)

2. Uống nước đúng cách

3. Ngủ đúng cách

3.1.Tham khảo cuốn ebook “Để trẻ có giấc ngủ ngon” - B.S. LÊ VĂN TRI

3.1.1.Các khái niệm chung

Các kiểu ngủ

- Kiểu ngủ sóng chậm (động thì – ngủ sâu).

- Kiểu ngủ đảo ngược (động mắt nhanh – ngủ không sâu). Ngủ không sâu trẻ có thể mơ, mộng; khi đang nằm mơ mà bị đánh thức hoặc khi mất ngủ, người ta cảm thấy mệt.

Thời lượng ngủ

Tùy theo độ tuổi mà thời lượng ngủ giảm dần và nhịp ngủ dần hình thành. Chia thành giấc ngủ dài và giấc ngủ ngắn.

Đau bụng (Colic)

Do hệ thần kinh còn chưa hoàn thiện nên tháng thứ 3 sau khi ra đời, trẻ hay bị đau bụng (colic) và tháng thứ 8 hay bị hội chứng sau đau bụng (post colic), nghĩa là trẻ hay cáu gắt, quấy khóc và thức đêm. Khoảng 3 tuổi thì não mới phát triển tương đối hoàn thiện, giấc ngủ của trẻ mới bắt đầu ổn định bình thường.

Giấc ngủ ngon

Giấc ngủ ngon: thời lượng phải đủ, có các giấc ngắn xen lẫn dài, duy trì tốt.

Tầm quan trọng

Đối với trẻ em, giấc ngủ là rất quan trọng và cần được rèn luyện ngay từ nhỏ. Trẻ ngủ đủ sẽ có phát triển sức lớn, trí thông minh, tính tình ôn hòa, khả năng tập trung, khả năng thích nghi và dễ bảo, giảm tỉ lệ chấn thương. Trẻ hay mất ngủ sẽ dẫn đến tình trạng khóc nhiều, mất ngủ nối tiếp, nóng tính, khó bảo, thiếu tập trung, tăng nguy cơ tổn thương, v...v...

Giấc ngủ ngắn ban ngày rất quan trọng

- Ngủ ngắn nhiều khiến trẻ có khí chất dịu dàng, dễ thích ứng với ngoại cảnh, dễ gần, dễ quản lý.

- Ngủ ngắn ít khiến trẻ càng mất kiên trì và càng bất thường thì sau này học hành càng kém, có xu hướng quá hiếu động.

- Thời lượng ngủ ngắn không đủ khiến trẻ không chú ý được Trẻ có thời lượng ngủ ngắn dài thì khoảng chú ý dài.

- Ngủ ngắn ít có thể dẫn đến khó ngủ đêm và hiện tượng khóc kéo dài.

Vì thế tuyệt đối tránh làm ảnh hưởng đến giấc ngủ ngày của trẻ, đặc biệt là ngủ trưa, ví dụ: đi chơi, chuyển nhà, xem phim, v...v...

Ngủ ngày ít không làm cho trẻ ngủ đêm nhiều

Trên 3 tuổi thì giấc ngủ ngày dài có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ  đêm.

Nằm sấp hay ngửa là do thói quen

3.1.2. Các loại rối loạn giấc ngủ

- Sự mất ngủ của các em phần nhiều là loại không bị tổn thương (ốm, đau, chấn thương) và tinh thần (cảm xúc, stress).

Mất ngủ: Thiếu ngủ về cả số giấc và thời gian trong thời gian dài. Mất ngủ có thể là khó ngủ, khó duy trì giấc ngủ, hoặc thức dậy quá sớm, bản chất là sự khó quản lý thời gian ngủ.

Ngủ nhiều: Trạng thái ngủ ngày quá mức và những giấc ngủ kéo dài sang pha tỉnh táo lúc thức tỉnh. Ngủ nhiều có thể do bệnh hoặc không rõ nguyên nhân.

Rối loạn nhịp thức - ngủ: Thiếu tính đồng bộ giữa nhịp thức - ngủ của cá nhân và nhịp thức - ngủ mong muốn của nhiều người, có thể mất ngủ trong thời gian chính (là thời gian cần ngủ) và ngủ nhiều trong thời gian thức.

- Quá tỉnh táo: Tăng hoạt động sinh lý, thức giấc luôn do thần kinh, thao thức quá mức, tăng phản ứng do cảm xúc, tăng nhạy cảm giác quan.

3.1.3. Các nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ

- Do kích thích: trẻ càng lớn thì càng hiếu động và ham muốn khám phá, vì thế có xu hướng ham chơi và quên ngủ.

- Sự xáo trộn trong sinh hoạt gây ra những rối loạn ngủ nhẹ ban đầu, nếu không khắc phục có thể dẫn đến sự rối loạn các sinh hoạt khác và các rối loạn giấc ngủ ở mức độ nghiêm trọng hơn và thường xuyên hơn.

- Sự thiếu ngủ ngày hoặc đêm dẫn đến mệt và càng khó ngủ ở những giấc sau.

- Đau bụng (Colic): hệ thần kinh phát triển chưa đầy đủ, cảm xúc căng thẳng, lo lắng, sợ xa mẹ, ức chế vì bị ép buộc, phấn khích, chơi đùa nhiều trước khi ngủ cũng gây ra rối loạn giấc ngủ.

- Tác động từ môi trường: nhiệt độ, âm thanh, ánh sáng, rung động, thở, v...v... có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ.

- Tác động từ cha mẹ: cha mẹ cãi nhau, to tiếng, mẹ buồn và hay trút tâm sự vào con, v...v...

- Lịch ngủ bất thường.

- Bố mẹ hay thức đêm khiến cháu thức theo.

- Trẻ hay dãy dụa và không thể tự ngủ lại.

3.1.4. Phương pháp rèn luyện giấc ngủ

Tạo giấc ngủ bằng cách cho bú sữa và nước (sau 6 tuần tuổi)

Phương pháp có thể tiến hành từ ngày thứ 3 sau đẻ, nhưng tốt nhất là từ sau 6 tuần (khi hình thành giấc ngủ đêm). Cách làm: Cho bú mẹ dồn một lúc, tập trung từ 10-12 giờ đêm, sau đó cho bú nước và âu yếm cháu. Hãy thực hiện qua 6 bước như sau:

- Bước 1: Chuẩn bị sẵn chai nước.

- Bước 2: Cho bú dồn, đánh thức cháu dậy để bú từ 10-12 giờ đêm. Sau đó, đặt cháu ngủ lại.

- Bước 3: Nếu lần đầu cháu tự thức, người cha hãy vào quấn tã và dỗ dành (không cho mẹ vào). Nhất thiết không bế, không ru, hãy đặt cháu xuống giường hoặc cho ngậm vú ngủ.

- Bước 4: Nếu cháu đã ngủ và bây giờ thức dậy, bạn hãy cố gắng chơi với cháu để “kéo dài thời gian” (có thể bế cháu hoặc đi dạo). Nếu cháu không ngủ, sau khi đặt 10-20 phút, phải bế cháu dậy, chơi với cháu.

- Bước 5: Kéo dài thời gian chơi với cháu càng nhiều càng tốt, nhưng phải cho bú nước, không bú sữa mẹ. Theo tác giả, cháu sẽ bỏ khóc đêm ngay lập tức nếu được cho bú nước và âu yếm nhiều.

- Bước 6: Thay tã, đặt cháu ngủ lại, rồi sau đó cho cháu bú (theo công thức định sẵn).

Tạo giấc ngủ dài (3 tháng tuổi)

Đây là phương pháp của Rita J.McGarr và Melbourne F.Hovel. Mục đích của phương pháp này là tăng độ dài giấc ngủ, loại bỏ thói quen khóc đêm. Cách làm: Đối với những trẻ hay thức dậy quá sớm, cha mẹ hãy chủ động đánh thức con sớm hơn thường lệ 15 phút. Chẳng hạn nếu trẻ thường thức dậy lúc 4 giờ sáng, bạn hãy đánh thức cháu dậy lúc 3h 45. Khi cháu thức dậy, mẹ hãy ôm và âu yếm, hôn cháu, vuốt ve cháu, sau đó đặt cháu ngủ lại (theo tác giả, với sự âu yếm của mẹ, trẻ sẽ dễ ngủ và không khóc). Tiếp đến, ta lại chủ động đánh thức cháu dậy, nhưng chậm 15-30 phút so với trước. Sau đó, mức chậm tăng dần tới lịch ngủ mong muốn. Nếu trẻ vẫn thức dậy sớm thì làm lại phương pháp này nhưng đánh thức cháu sớm hơn trước 15-30 phút. Phương pháp này chỉ thích hợp với trẻ 3 tháng tuổi.

Phương pháp giảm thức đêm (từ 4 - 9 tháng tuổi)

- Làm giảm dần thức đêm: đầu tiên là thức cùng với cháu (không chăm sóc gì cả), cho cháu uống sữa, sau thức ngắn dần đồng thời chai sữa cũng pha loãng dần rồi chỉ cho bú nước. Cuối cùng là giảm thời gian tiếp xúc và không đáp lại yêu cầu của cháu, để cháu ngủ theo ý muốn.

- Dứt điểm: đến giờ ngủ, cả ngủ ngày và ngủ đêm, đặt cháu xuống giường cho cháu ngủ một mình. Trong vài hôm đầu, cháu sẽ khóc nhiều nhưng mẹ không được vào, để từ từ cháu sẽ ngủ. Vài hôm sau cháu quen dần, tự ngủ được và hết khóc.

Tạo giấc ngủ bằng kiểm tra (trên 1 tuổi)

Nếu con hay thức dậy và quấy khóc ban đêm, bạn hãy tập cho con ngủ yên bằng cách vào thăm con nhiều lần nhưng chỉ để kiểm tra. Thái độ của bạn phải kiên quyết, không bế, không ru, nhưng làm con yên tâm. Bạn đứng một lúc, nếu không không thấy gì trục trặc thì dù con còn khóc cũng phải đi ra khỏi phòng. Năm phút sau bạn lại vào kiểm tra, không thấy gì bạn lại đi ra. Làm như vậy 3- 4 lần trong đêm, trẻ sẽ ngủ vì không mong được gì ở bố mẹ. Đây là phương pháp của Jo Douglas và Naomi Richman, chỉ thích hợp cho trẻ trên 1 tuổi.

Tạo giấc ngủ bằng khả năng tự ru ngủ của cháu

Đây là phương pháp kết hợp ngủ với một điều kiện thích hợp của Richard Ferber. Thường đứa trẻ khi ngủ hay kết hợp với một điều kiện nào đó như bế ẵm, nằm trên đi văng, đu đưa trên võng. Khi điều kiện này mất đi thì giấc ngủ khó thực hiện. Phương pháp này nhằm tìm ra một điều kiện kết hợp. Cách làm:

- Đêm thứ nhất: Khi trẻ thức dậy, cứ để trẻ khóc 5 phút rồi mới vào. Chỉ ở trong phòng 2-3 phút (có tính chất kiểm tra cho yên tâm), không bế, không ru, rồi đi ra, bất kể cháu khóc hay nín, ngủ hay thức. Mười phút sau, đi vào và làm lại các động tác như cũ, xong lại đi ra. Mười lăm phút sau trở lại, làm như trên.  Sau đó, cứ 15 phút bạn lại vào một lần cho đến khi con ngủ. Nếu con còn khóc, hãy vào ra một lần nữa với các khoảng cách thời gian: 5, 10, 15, 15, 15 phút. Nếu cháu đã ngủ thì không vào nữa.

- Đêm thứ 2: Nếu trẻ thức dậy thì cũng làm như trên nhưng khoảng thời gian chậm hơn: 10, 15, 20, 20, 20 phút.

- Đêm thứ 3: Khi trẻ thức, cũng làm như trên, nhưng khoảng thời gian chậm hơn nữa: 15, 20, 25, 25, 25.

Nếu làm như trên, trẻ sẽ biết kết hợp việc đi vào giấc ngủ với việc ngủ lại trong nôi của mình. Vì thế, phương pháp này còn có tên là “luyện khả năng tự ru ngủ”.

3.1.5. Nhịp ngủ theo độ tuổi và cha mẹ cần làm gì

Tuần đầu sau sinh

Trẻ ngủ theo yêu cầu, vì chưa có nhịp thức - ngủ tự nhiên, không chịu ảnh hưởng của các tiếng động môi trường. Thời lượng ngủ 16 - 20 giờ/ngày nhưng giấc dài nhất chỉ kéo dài 4-5 giờ.

Cha mẹ cần chú ý:

- Để ý giờ giấc cho cháu bú. Nên chú ý thay tã, chăm sóc cháu, nhất là phải để cho cháu ngủ đẫy khi cháu cần.

- Tranh thủ nghỉ ngơi để phục hồi sức khoẻ. Hãy tháo điện thoại ra khi chăm sóc cháu, khi bạn ngủ với cháu, khi có chồng ở bên, và hãy để sẵn một chai sữa bên cạnh (hoặc chai nước) phòng khi cháu thức dậy mà bạn phải cho bú sữa / nước.

2 tuần đến 4 tuần

Trẻ ngủ theo yêu cầu, vì chưa có nhịp thức - ngủ tự nhiên, không chịu ảnh hưởng của các tiếng động môi trường. Thời lượng ngủ 15 - 16 giờ/ngày, giấc dài nhất có thể kéo dài 3 - 4 giờ. Lúc sắp ngủ hay vừa ngủ dậy, cháu có thể đột nhiên giật mình, đôi khi mắt lơ mơ nhìn ngược lên khi chuyển từ ngủ nông sang ngủ sâu. Trẻ có thể tỉnh táo, dễ thức dậy ban đêm hoặc giãy đạp, ưỡn lưng, nấc, có thể nuốt hơi, bị đầy bụng, đau bụng hoặc khóc vô cớ, đôi khi nôn trớ vì mẹ quên quấn tã lót. Tất cả đều là các hành vi bình thường của trẻ sơ sinh.

Cha mẹ phải:

- Chuẩn bị cho bú, thay tã, hát ru... bất cứ lúc nào vì trẻ chưa có kế hoạch, các yêu cầu đều không có giờ giấc.

- Tạo điều kiện yên tĩnh để cháu ngủ say.

- Không phải làm gì khác, chỉ cần bế, ru, đu đưa, đi lại.

- Tranh thủ chợp mắt khi con ngủ. Tháo điện thoại ra.

- Đi ra ngoài thư giãn, vệ sinh cá nhân nếu cần.

- Tìm mọi cách để ru trẻ, không sợ vì thế mà làm hư hay tạo thói xấu cho trẻ.

- Có thể dùng vú giả, nôi, võng, hoặc cho bú để trẻ thôi khóc.

- Nếu thấy trẻ ngủ ngon, bạn có thể yên tâm làm việc

Tháng thứ 2

Trẻ ngủ theo yêu cầu, vì chưa có nhịp thức - ngủ tự nhiên, không chịu ảnh hưởng của các tiếng động môi trường. Thời lượng ngủ 15 - 16 giờ/ngày, dần xuất hiện một giấc dài nhất rơi vào buổi tối, thời lượng ngủ cũng vào khoảng 4- 6 giờ. Bắt đầu hiếu động và thích chơi hơn ngủ, có thể vì chơi mà quên ngủ.

3 đến 4 tháng tuổi

Có thể xuất hiện hiện tượng đau bụng Colin, kêu khóc suốt ngày, giờ ngủ thất thường và rất nhạy cảm với các kích thích, dỗ cách nào cũng không nín. Điều trị “hội chứng đau bụng” bằng cách mỉm cười với cháu. Thấy mẹ cười to, mắt mở rộng, nhìn âu yếm, nựng con, cháu sẽ bớt khóc. Giấc ngủ ngày thường ngắn, gián đoạn, trẻ bắt đầu chịu tác động từ môi trường, khi cháu đòi ngủ, hãy đưa cháu vào chỗ mát yên tĩnh, khi ăn cũng vậy.

Bố mẹ phải:

- Gác việc nhà và việc giao tiếp với bạn bè lại.

- Tháo điện thoại ra.

- Chợp mắt ngay khi con ngủ.

- Thuê người giúp việc nội trợ gia đình khi trẻ quấy khóc nhiều.

- Thư giãn khi không vướng con bên cạnh (xem tivi, đi bơi, đi chợ).

- Làm cho cháu đỡ khóc bằng cách đu đưa hay cho bú vú giả.

- Nếu có thể thì đặt cháu trên chăn ấm, đặt chai nước ấm lên bụng, cất những đồ chơi cháu không thích, đặt đầu và cổ tay cháu qua một lần lót mềm.

- Nếu vặn đài, phải vặn rất nhỏ.

- Cho trẻ môi trường yên tĩnh để ngủ bất kỳ lúc nào, thường là sau 2h thức thì sẽ rơi vào giấc ngủ. Nhiệt độ, ánh sáng phải hợp lý.

- Nếu vào thời điểm ngủ ngắn mà cháu không ngủ ngay, hãy đặt cháu nằm một mình rồi đi ra. Giấc ngủ ngắn buổi chiều có thể bị chậm lại nếu buổi sáng cháu khóc, ngủ nhiều.

Từ 4 đến 8 tháng tuổi

Vẫn ngủ nhiều nhưng chịu tác động của môi trường xung quanh. Một số trẻ thường thức dậy sớm vào lúc 5-6 giờ, sau khi được thay tã và cho bú thì ngủ lại. Đây vẫn không phải giấc ngủ ngày mà là một giấc ngủ đêm kéo dài. Lịch ngủ lý tưởng: 1 giấc dài buổi đêm, 2-3 giấc ngắn ban ngày. Thức dậy lúc 6-7 giờ sáng. Giấc ngủ ngắn thứ hai vào đầu buổi chiều. Giấc ngủ đêm bắt đầu lúc 7- 9 giờ tối.

Giấc ngủ dài: nhất thiết phải buộc cháu tuân theo giờ ngủ. Khi cháu mệt, cần ngủ, phải chuẩn bị cho cháu đi ngủ dù chúng muốn hoặc không, còn bạn thì không bắt buộc. Sau vài lần chống đối bằng cách khóc, chúng sẽ quen, lúc này có thể huấn luyện thêm vài thủ tục khác như rửa tay sạch. Có thể mỗi đêm thức dậy một lần, là điều bình thường.

Bố mẹ phải:

- Giữ gìn sự yên tĩnh xung quanh, hành vi âu yếm của bố mẹ lúc này là rất cần. Các bà mẹ phải chú ý dỗ dành, giữ cho con bình tĩnh, không sợ.

- Để tránh tai nạn, quanh giường và trong tầm với của cháu, không nên để đồ đạc nguy hiểm, có thể rơi, đổ.

- Dù bằng cách nào, cha mẹ cũng không thể thay đổi giờ giấc của con. Chẳng hạn như không thể bắt cháu dậy muộn hơn bằng cách cho trẻ ăn xam nặng trước khi đi ngủ đêm. Cũng không thể đánh thức cháu dậy để bú khi cháu đang ngủ.

- Rèn cho con ngủ một mình: khi thấy con nằm xuống giường thì dù có khóc cũng không vào nữa. Sau khi khóc một lúc, cháu sẽ ngủ yên.

- Trong đêm con có thể thức dậy 1 lần. Bạn nên chọn một giờ nào đó để cho con bú và thay tã, các giờ khác không vào buồng ngủ của con nữa.

- Các bà mẹ phải đồng bộ hoá việc cho con bú và giấc ngủ của chúng.

9-12 tháng tuổi

Trẻ thường thiếu ngủ, do giấc ngủ ngày không đủ, do ham chơi và có các rối loạn giấc ngủ khác, cần phải giữ đúng lịch ngủ, kiên trì và khéo léo dỗ cháu ngủ khi cháu thức đêm.

1-5 tuổi

Ban đêm, đa số các cháu từ 1 đến 5 tuổi cần tới 30 phút (sau khi tắt hết đèn) mới ngủ được. Chúng thức dậy một lần trong tuần, chỉ một số ít là thức mỗi đêm một lần. Nếu kiểu ngủ của con bạn (ở lứa tuổi này) là hoàn toàn khác thì khả năng con bạn có rối loạn giấc ngủ là 20%. Và nếu điều đó đúng, thì lý do có thể là ngủ ngày quá nhiều.

3.1.6.Những tình huống bất thường

Chuyển nhà

Khi mới chuyển nhà, do lạ chỗ, trẻ thường lo lắng, không ngủ yên, mỏi mệt, huyết áp tăng, sợ sệt. Cần phải động viên, làm trẻ quen dần với môi trường để ngủ yên. Nếu trẻ dưới 1 tuổi, chúng có thể thay đổi kiểu ngủ và thức đêm. Nhưng nếu trước đó cháu ngủ bình thường thì chỉ sau vài ngày là ổn, cháu lại ngủ lại như cũ.

Nếu trẻ đã được vài tuổi, sự hồi phục giấc ngủ sẽ chậm hơn. Cần động viên, làm cho cháu không hoảng sợ nơi ở mới bằng cách đưa sang hàng xóm làm quen, dẫn đi dạo xung quanh, xem những cảnh đẹp nhằm giúp cháu yêu thích nhà mới. Ban đêm, trước khi đi ngủ, nên có người bên cạnh, hoặc mở cửa, bật đèn cho cháu đỡ sợ. Khi cháu đã ngủ yên mới nên tắt đèn, buông rèm, hay đóng cửa. Những người lớn phải tỏ ra yêu thích nhà mới, bình tĩnh như không có gì xảy ra để cho cháu yên tâm.

Đi nghỉ

Đối với trẻ em, chỉ nên đi nghỉ ngắn ngày. Nếu phải đi đến nơi cách nhiều múi giờ trong một thời gian dài, bạn phải điều chỉnh giấc ngủ cho cháu. Tốt nhất là lấy lại đồng hồ như giờ địa phương, ngủ và hoạt động như người bản xứ, cố giữ cho sinh hoạt không đảo lộn. Lâu ngày cháu sẽ quen. Nếu nghỉ hè, đi biển, nên chơi trong chỗ mát, có dù che, tôn trọng những thú vui mới lạ của cháu như nhặt sò, ốc, tìm cua, cáy, làm đụn xây cát... Có thể chấp nhận việc đảo lộn thói quen ngủ của cháu trong vài ngày, cốt để thư giãn đầu óc. Khi trở về nhà, cha mẹ lại đưa dần cháu vào lịch biểu cũ. Việc này sẽ loạc choạc trong vài ngày đầu, nhưng bố mẹ phải nói rõ là đã hết ngày nghỉ để các con đưa mọi sinh hoạt vào nền nếp cũ. Vài ngày đầu, trẻ có thể không chịu ngủ trưa, đêm thức khuya, ngủ muộn, nhưng sau sẽ quen dần. Đừng đưa vào quy củ nhanh và khắt khe quá; cứ từ từ, mọi việc sẽ ổn.

Trẻ ốm yếu

Một đứa trẻ ốm yếu, quặt quẹo sẽ hay thức đêm, quấy khóc vì giấc ngủ không sâu. Trẻ em khỏe cũng có thức đêm, nhưng sau vài ngày trẻ sẽ lại có giấc ngủ ngon. Tất nhiên, trẻ còn có thể thức đêm vì đau và sốt khi bị viêm nhiễm (như viêm tai giữa chẳng hạn) hoặc quá bận rộn, mê mải với việc học tập. Khả năng tự ngủ lại của trẻ ốm yếu là rất kém nên một khi đã thức, cháu khó ngủ lại. Có thể xảy ra ba tình huống:

- Khi ốm đau, trẻ được nuông chiều nhiều. Sau khi khỏi, trẻ đã quen thức đêm để chơi đùa với bố mẹ, để ở bên mẹ được lâu. Trường hợp này, ta phải khéo léo dỗ cháu đi ngủ, tạo địa điểm và không khí dễ ngủ như tắt đèn, giữ yên lặng. Việc bố mẹ mệt mỏi, cáu kỉnh vì con thức đêm nhiều cũng làm cho con tỉnh ngủ, thức dậy luôn. Đó là điều cha mẹ phải chú ý.

- Khi con ốm, bố mẹ hay vào phòng con để chăm sóc, đến lúc con khỏe, bố mẹ ít hoặc không vào. Vì mong bố mẹ vào phòng, trẻ thường khóc thật to để đòi. Nhiều bố mẹ thường cảm thấy khó xử vì không biết con khóc do làm nũng hay đau yếu. Cần tỉnh táo để phân biệt cho rõ.

- Thông thường, nếu ốm nhẹ, cháu vẫn chịu chơi, ăn ngủ bình thường. Trẻ có thể sẽ thức đêm đôi chút nhưng bố mẹ vẫn có thể yên tâm để trẻ ngủ một mình. Tuy nhiên, khi trẻ ốm yếu nhiều, đau cấp tính, hay thức đêm, quấy khóc, giãy đạp... thì bố mẹ phải ở cùng với con cho đến khi lành hẳn bệnh.

Trẻ béo phì

Trẻ béo phì có thể do dinh dưỡng hoặc những nguyên nhân khác. Một số trẻ khó quản lý, hay quấy khóc thường được bố mẹ dỗ bằng cách cho bú hoặc cho ăn. Kết quả là những trẻ này rất dễ bị béo phì về sau. Cho bú tùy tiện là một tác phong xấu khi dỗ con, nhất là lúc trẻ được 3-4 tháng tuổi. Việc cho ăn nên theo giờ giấc. Nếu trẻ khóc mà chưa tới giờ ăn thì hãy cho ngậm vú giả. Có người đề xuất là cho bú dịch không dinh dưỡng hoặc nước ngọt, nhưng điều này sẽ ảnh hưởng đến việc ăn dặm về sau.

3.2.Theo phương án 0 tuổi

3.2.1.Tạo thành lịch sinh hoạt cố định và để trẻ tự ngủ

Khi trẻ mới ra đời, trẻ có thường có cảm giác bất an, vì vậy khi trẻ ngủ cần có người ôm trẻ. Nếu như ngay từ đầu khi trẻ đã bú no, bạn dỗ trẻ tự ngủ một mình, đó là cách bồi dưỡng tính độc lập sớm nhất cho trẻ. Nếu trẻ đã có thói quen được mẹ ôm ngủ, bây giờ mẹ có thể cùng nằm trên giường với trẻ, hát khe khẽ hay kể chuyện cho trẻ nghe để dần dần thay đổi thói quen xấu. Nếu trẻ quấy khóc, có thể kéo dài thời gian dỗ dành trẻ hơn, trẻ khóc vài tiếng cũng không vấn đề gì, cha mẹ không nên quá sốt ruột lo lắng, không nên vừa nghe thấy trẻ khóc vài tiếng đã xót ruột mà quên mất mục đích thay đổi thói quen xấu ở trẻ.

3.2.2.Ru búp bê ngủ

Mục đích: rèn luyện bé có thói quen nghe nhạc để đi vào giấc ngủ.

Chuẩn bị: Búp bê vải, nhạc chậm rãi nhẹ nhàng, thẻ chữ “ngủ”. Có thể 1 bài hát ru ngắn hoặc bài chúc bé ngủ ngon.

Tiến hành:

- Mẹ làm động tác mẫu, dạy bé bắt chước làm mẹ dỗ búp bê vải ngủ.

- Bật nhạc, để bé làm quen với nhịp điệu nhạc, dỗ búp bê vải ngủ.

- Mẹ khuyến khích bé học búp bê vải, im lặng đi vào giấc ngủ theo tiếng nhạc.

- Nhận mặt chữ: ngủ.

3.2.3.Kể truyện trước khi ngủ

Bố mẹ kể truyện cho con trước khi ngủ. Đó có thể là một câu chuyện cổ tích, một câu chuyện về các loài vật, hay một câu chuyện về các danh nhân.

3.3.Theo “Người Pháp dạy con”

Đa phần trẻ em Pháp đều có thể tự ngủ từ 4 tháng tuổi, chúng ta cùng xem người Pháp đã làm thế nào nhé.

Khoảng dừng

Ngay từ khi con chào đời, ban đêm đừng nhao đến bên bé khi bé khóc, hãy chờ 5 phút để quan sát con. Chúng ta cần tìm hiểu xem con thật sự cần gì. Trẻ nhỏ xoay mình và gây tiếng động rất nhiều trong lúc ngủ. Điều này là bình thường và không có vấn đề gì cả, nếu cha mẹ vội vã chạy tới và bế bé lên mỗi khi bé ọ ẹ thì đôi khi họ sẽ làm bé thức giấc, đó là hành động quấy rầy trẻ. Nếu trẻ khóc ngày càng to, thì có thể bé cần được ăn, bạn hãy cho con ăn.

Một lý do khác nữa để “dừng” là trẻ thức dậy giữa những chu kỳ ngủ của mình, kéo dài khoảng hai tiếng. Việc các bé có khóc một chút khi lần đầu học cách kết nối các chu kỳ này cũng là bình thường. Nếu cha hoặc mẹ tự động lý giải tiếng khóc này là vì đòi ăn hoặc là dấu hiệu của cảm giác buồn bã rồi vội vã dỗ dành bé, bé sẽ gặp khó khăn trong việc học cách kết nối các chu kỳ của mình. Vậy đó, bé sẽ cần có người lớn tới dỗ cho bé ngủ lại ở cuối mỗi chu kỳ. Trẻ sơ sinh thường không thể tự kết nối các chu kỳ ngủ. Nhưng từ khoảng hai hay ba tháng, thường là các bé có thể làm việc đó, nếu chúng ta cho bé cơ hội làm việc đó. Kết nối các chu kỳ ngủ cũng giống như đi xe đạp: nếu trẻ xoay xở để tự chìm lại vào giấc ngủ dù chỉ một lẩn, thì lần tới bé sẽ làm việc đó dễ dàng hơn. (Người lớn cũng thức dậy giữa các chu kỳ ngủ của mình nhưng thường không nhớ vì họ đã học được cách chuyển thẳng sang chu kỳ tiếp theo).

Khoảng dừng là cần thiết vì các bé có thể học được mọi thứ. Việc học này, được thực hiện nhẹ nhàng và theo tốc độ của chính bé, không hể gây tác hại. Điểu đó, các bậc cha mẹ tin ràng sẽ trao cho các bé sự tự tin cũng như cảm giác bình yên và khiến các bé nhận thức được về những người khác. Và việc đó sẽ tạo đà cho mối quan hệ tôn trọng giữa cha mẹ và con cái mà tôi nhận thấy sau này.

Những quy tắc bổ sung

Đó là không được ôm, nựng hay cho bú để dỗ bé ngủ vào ban đêm.

Với các bé hai tuần tuổi: nếu các bé khóc trong khoảng từ nửa đêm tới năm giờ sáng, cha mẹ nên quấn lại tã, vỗ về, thay bỉm hay bế bé đi vòng quanh, nhưng mẹ chi nên cho bé ti nếu sau đó bé vẫn tiếp tục khóc.

Một lời khuyên khác là, từ khi sinh, các bà mẹ nên phân biệt giữa lúc các bé khóc và khi các bé chỉ thút thít giữa giấc ngủ. Nói cách khác, trước khi bế một em bé ồn ào lên, họ nên dừng một chút để chắc chắn là bé đã thức.

Để cho con khóc

Việc để cho con khóc đôi lúc cũng cần thiết. Nhưng chú ý: trước khi để cho trẻ khóc thỏa thích, việc giải thích cho bé bạn sắp làm gì là cực kỳ quan trọng. Ví dụ: “Vào buổi tối, mẹ nói chuyện với bé. Mẹ nói với bé rằng, nếu bé thức dậy một lần, mẹ sẽ đưa cho bé ti giả. Nhưng sau đó, mẹ sẽ không dậy nữa. Đây là thời gian để ngủ. Mẹ sẽ không ở xa và mẹ sẽ tới vỗ về bé một lần trong đêm. Nhưng không phải là suốt cả đêm.” Một điều quan trọng cha mẹ phải thực sự tin tưởng rằng bé sẽ làm được điểu đó.

Thời gian khóc của bé sẽ ngày càng giảm dần khi thấy việc gào thét không có tác dụng.

3.4.Theo “Phương pháp dạy con của người Mỹ”

Người Mỹ cho con mình ngủ riêng từ 6-7 tháng tuổi.

Cách người Mỹ dỗ con ngủ

9h sau khi vệ sinh xong, bé sẽ lên giường đi ngủ. Mẹ có thể đọc truyện cho con rồi dặn con đi ngủ. Trẻ thường ngủ cùng với 1 chú gấu bông. Mẹ thường nói với con: “Để bạn gấu ngủ với con được không? Sam chăm sóc bạn gấu nhé, Sam của mẹ đã lớn rồi phải không nào”, v...v... trẻ được trao trách nhiệm sẽ tự thấy mình lớn hơn và cư xử như người lớn, rồi bé tự ngủ.

Tác dụng của ngủ một mình

- Bồi dưỡng tính tự lập và khả năng tự chăm sóc, giảm tính ỷ lại. Sau này khi khó khăn hay cảm thấy cô đơn, trẻ sẽ nhanh chóng điều chỉnh bản thân để tự mình vượt qua những thử thách đó.

- Rèn luyện sự dũng cảm. Khi bé ngủ một mình, mỗi đêm đều phải đối mặt với bóng tối, khi bé tỉnh dậy không có bố mẹ bên cạnh, bé sẽ khồng ngừng tự an ủi, điều chỉnh bản thân, cuối cùng bé sẽ nhận ra mình có thể trải qua đêm tối mà không cần cha mẹ bên cạnh. Cứ như vậy, lâu dần, bé sẽ vượt quạ được tính nhút nhát, sợ hãi của mình. Khi gặp phải những khó khăn trong cuộc sống sau này, bé sẽ dũng cảm, tự tin một mình vượt qua tất cả.

- Rèn luyện khả năng tự an ủi bản thân, sau này sẽ mạnh mẽ vượt qua khó khăn.

4. Mặc đúng cách

4.1.Theo phương án 0 tuổi

Mặc quần áo cũng giống như ăn cơm, không phải là một chuyện nhỏ. Giúp bé từ nhỏ biết cách mặc quần áo một cách hợp lý, chính xác, không chỉ có lợi cho sức khoẻ, hình thành khả năng cảm nhận cái đẹp, còn có thể bồi dưỡng khả năng độc lập và tự lo liệu, thậm chí còn có thể tăng cường trí lực, rất nhiều lợi ích:

- Khi bé yêu hơn 1 tuổi, cần khuyến khích bé tự mình cài khuy áo, lớn hơn một chút nữa nên để cho bé học cách tự đi tất, mặc quần áo nhỏ, buộc dây giày, thường xuyên khen ngợi bé thông minh, tài giỏi. Và bé yêu sẽ không cho rằng lao động là gánh nặng, ngược lại coi lao động là trò chơi.

- Thường xuyên trò chuyện với bé màu sắc quần áo nào đẹp, kiểu dáng nào đẹp, như vậy vô hình trung đã dạy bé nhận biết màu sắc, phân biệt kiểu dáng, đây là một cách luyện tập về kiến thức phổ thông trong cuộc sống rất tốt và bồi dưỡng cảm nhận cái đẹp cho bé.

- Chú ý cho bé yêu ăn mặc gọn gàng, hợp với cơ thể, rộng rãi vừa phải, không mặc quá chật, nếu không các bé sẽ không dễ dàng vận động, cũng không có lợi cho sự phát triển cơ thể bé.

- Bất kể người lớn hay trẻ nhỏ, ăn mặc quần áo cần phải chỉnh tề, vừa thể hiện tinh thần thoải mái, vừa thể hiện thẩm mỹ, không cần thiết chạy theo chất liệu quần áo cao cấp, kiểu dáng cầu kỳ. Cần phải ngăn chặn mầm mống tư tưởng của các bé khi các bé so bì với người khác trong ăn mặc.

- Không được để các bé bôi môi son, sơn móng tay.

- Không cho phép các bé có những kiểu ăn mặc như đội mũ lệch, quần áo cắt chéo, không cài khuy áo..., ba lô cũng phải đeo ngay ngắn.

- Phải để các bé chú ý giữ gìn vệ sinh, không được làm quần áo quá bẩn. Nhưng cũng không phải yêu cầu các bé quá sạch sẽ, như vậy sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển khi bé vận động, hoạt động bằng cơ thể, giảm khả năng miễn dịch ở bé, cản trở việc bồi dưỡng tinh thần dũng cảm cho bé.

- Khi bé 3 tuổi trở lên, chúng ta còn cần phải rèn luyện cho bé có ý thức mặc nhiều quần áo hoặc mặc ít quần áo cùng với sự thay đổi của thời tiết, tăng cường ý thức phòng chống bệnh tật.

5. Dọn dẹp phòng, xếp đồ ngăn nắp

5.1.Theo phương án 0 tuổi

Tất cả những bé có cách sống gọn gàng, nề nếp, khi lớn lên các bé cũng tư duy có lôgic, có thứ tự. Tôi thường thấy những thanh niên có cuộc sống không nề nếp, phòng ở lộn xộn giống như ổ chó, khi làm việc những thanh niên này thường quên trước quên sau, thậm chí ăn mặc cũng lăng nhăng lít nhít. Những người như vậy không chỉ hiệu quả công việc không cao, mà còn rất dễ xảy ra sự cố, không thể làm những việc lớn cẩn thận, tỉ mỉ, chu đáo, an toàn dân sinh, mà còn làm xấu hình ảnh công chúng.

Để có nề nếp trong công việc, trong cuộc sống cũng cần thiết phải dạy dỗ từ nhỏ.

- Đầu tiên người lớn phải là tấm gương cho các bé, sắp xếp môi trường sống, nhà ở ngăn nắp. Cách bố trí đồ dùng gia đình, cách treo lên tường những đồ trang trí v...v… đều làm cho mọi người có cảm giác ngay ngắn, đẹp mắt và dễ chịu, vị trí đặt để của các vật dụng trong gia đình cũng cần có chỗ cố định, không được đặt để lung tung, hoặc chất đống một chỗ. Các bé là sản vật của môi trường, phải để các bé đến các môi trường sống khác để các bé cảm nhận cái đẹp của môi trường sống, hình thành thói quen trật tự, nề nếp.

- Khi các bé lớn hơn một chút, chúng ta cần chú ý làm đẹp đầu giường của các bé, bố trí phòng ở cho các bé. Những đồ dùng trong cuộc sống, quần áo, mũ đội, sách vở và đồ chơi...đều phải đặt ở vào những chỗ cố định, không được vứt bừa bãi. Như vậy các bé khi lớn lên sẽ luôn giữ được tâm trạng vui vẻ, nhanh nhẹn, có được tư duy mạch lạc. Trái lại, nếu đứa trẻ lớn lên trong một môi trường lộn xộn, bừa bãi, thì đứa trẻ đó không chỉ làm việc theo thứ tự, tâm trạng cũng không ổn định, khi lớn lên sẽ luôn gây những chuyện phiền phức.

- Trẻ em khoảng 3 tuổi, sau khi bố mẹ giặt xong quần áo phơi khô, cần khuyến khích bé gấp quần áo của mình, đồng thời hướng dẫn bé đặt vào tủ quần áo một cách ngay ngắn, và dần dần các bé sẽ học được cách giúp đỡ người khác.

- Những quần áo, mũ, tất khi đi ngủ cũng cần phải treo và xếp ngay ngắn, đây cũng là một cách dạy cho bé tính nề nếp trong cuộc sống. Đồng thời khuyến khích bé sắp xếp đồ đạc của mình, như chơi xong đồ chơi thì cất vào vị trí cũ.

- Bé từ 4 tuổi trở lên, chúng ta khuyến khích bé gấp chăn màn, thu dọn phòng của mình, chủ động thảo luận với bố mẹ sắp xếp phòng của mình như thế nào, trong phòng bé cần có bàn học, tủ sách, hộp đựng đồ, thùng đựng đồ chơi, bản đồ, tranh trang trí, đồng hồ báo thức, các thẻ chữ…Hằng ngày các bé cần thu dọn, sắp xếp phòng gọn gàng. Đây là tiêu chí lớn về tính độc lập.

6. Học và chơi hợp lý

7. Lao động, làm việc nhà

7.1. Theo Phương án 0 tuổi

Lao động không chỉ đã sáng tạo ra Thế giới mà còn tạo ra con người. Phải cho bé lao động. Lao động có rất nhiều hình thức: lao động phục vụ bản thân, lao động công ích xã hội, lao động sản xuất và chế tạo thủ công.

Cách rèn luyện

- Rèn luyện trẻ lao động, nên bắt đầu từ những lao động phù hợp với khả năng như lao động phục vụ bản thân và cho người thân. Khi trẻ vừa mới biết đi, phải khuyến khích trẻ lấy giúp dép cho mẹ, lấy ghế nhỏ cho bố, sau đó dạy trẻ cởi tất, cài khuy, ăn cơm, uống nước, rửa tay rửa chân, giặt khăn mặt, quần áo lót…

- Về phương diện chế tạo, cần kịp thời hướng dẫn trẻ làm thủ công, cắt giấy, nặn đất, và hướng dẫn trẻ làm nhiều đồ chơi, học cách tháo ra, lắp lại đồ chơi.

- Về lao động trong gia đình, chúng ta rèn luyện cho trẻ bắt đầu từ những việc đơn giản như: bật tắt đèn, quét nhà, lau bàn, xếp ghế, sắp xếp giá sách, thu dọn bàn ăn, rửa bát đũa, trẻ 4, 5 tuổi phải học cách sử dụng đồ điện gia dụng tuyệt đối an toàn, bao gồm cả máy giặt. Những gia đình không có máy giặt, trẻ học cách giặt quần áo bằng tay. Khi trẻ 6, 7 tuổi có thể cùng với người lớn đi chợ mua thức ăn, về nhà nhặt rau, rửa rau, dạy bé giúp người lớn luộc mỳ, gói sủi cảo, làm những món ăn đơn giản cho người lớn ăn.

- Cần khuyến khích và hướng dẫn trẻ lao động công ích với những lao động phù hợp với khả năng của trẻ, như: quét sân, cầu thang, hành lang, bảo vệ cây cối, đưa, nhận báo và thư.

- Còn có thể để trẻ làm những lao động sản xuất phù hợp với khả năng của trẻ, như dạy trẻ trồng rau, nuôi vật nhỏ, sử dụng các loại công cụ lao động.

Một số chú ý

- Từ nhỏ bồi dưỡng, gợi mở hứng thú của trẻ (để trẻ coi lao động là trò chơi), không được ép buộc trẻ lao động.

- Bất kể trẻ làm tốt hay không tốt, chúng ta cũng nên khuyến khích, khen ngợi, nhiệt tình tán thưởng.

- Theo trình tự tăng dần, lao động quá khó thì làm sau, những việc nào dễ làm thì làm trước, để tăng cường sự tự tin của trẻ.

- Khi mới bắt đầu học cách lao động, người lớn cần phải hướng dẫn và hỗ trợ trẻ, đồng thời mọi công lao đều thuộc về trẻ, tăng cường khen thưởng.

- Các thành viên trong gia đình có thể phân công làm việc thường ngày, để tạo cho trẻ thói quen lao động và kiên trì làm đến cùng. Sau một thời gian, có thể điều chỉnh phân công lao động, tăng cường hứng thú và giúp trẻ có cơ hội học các loại kỹ năng lao động.

- Thời gian lao động không nên quá dài, mỗi ngày làm khoảng 10 phút là tốt nhất, không nên vượt quá 20 phút. Nhưng cần kiên trì hàng ngày, hơi vất vả một chút cũng cần dạy dỗ, để cho trẻ hiểu được “trẻ con nhà nghèo sớm trưởng thành”.

- Để bồi dưỡng tinh thần vui vẻ, yêu lao động của trẻ, người lớn cần phải đồng thời làm việc với trẻ, vừa làm việc vừa cười nói, và cùng nhau hát, ví dụ bài chị ong nâu và em bé.

- Bồi dưỡng trẻ lao động, nhất định phải lâu dài, kiên trì trong thời gian dài, không được thích làm thì làm, không thích làm thì không làm, nếu không sẽ không thể tạo cho trẻ thói quen yêu lao động.

8. Giữ gìn vệ sinh

9. Thể dục hàng ngày

Chương 2: Rèn luyện cơ thể

1. Khí công

2. Yoga

3. Thể thao

4. Sức chịu đựng

Chương 3: Phòng bệnh và chữa bệnh

Chương 4: Sơ cứu khẩn cấp

Viết bình luận